Author Archives: admin

VCA làm việc với hệ thống AFDEX: Tìm giải pháp thiết lập chuỗi hiệu quả

Chiều ngày 01/4, tại trụ sở Liên minh Hợp tác xã (HTX) Việt Nam, Chủ tịch Nguyễn Ngọc Bảo đã có buổi tiếp và làm việc với Hệ thống AFDEX về giải pháp thiết lập chuỗi.

Về phía Liên minh HTX Việt Nam có đồng chí lãnh đạo Văn phòng, Ban Hợp tác Quốc tế; Ban Chính sách và Phát triển HTX; Ban Kinh tế đầu tư và cán bộ liên quan.

Đồng chí Chủ tịch Liên minh HTX Việt Nam Nguyễn Ngọc Bảo tại buổi làm việc

Về phía Hệ thống AFDEX có bà Nguyễn Thị Thanh Hà, Chủ tịch HĐQT Hệ thống AFDEX; ông Chu Hồng Trung, Tổng Giám đốc Hệ thống AFDEX; ông Nguyễn Tuấn Anh, Phó Tổng Giám đốc phụ trách tài chính và các cán bộ liên quan.

Bà Nguyễn Thị Thanh Hà, Chủ tịch HĐQT Hệ thống AFDEX và ông Chu Hồng Trung, Tổng Giám đốc Hệ thống AFDEX tại buổi làm việc

Giới thiệu về hệ thống AFDEX, bà Nguyễn Thị Thanh Hà, Chủ tịch HĐQT nhấn mạnh về “Giải pháp Đồng bộ Phát triển Kinh tế Nông nghiệp Địa phương” (Giải pháp AFDEX) có 4 hợp phần gồm: Thiết lập 72 Chuỗi Cung cầu Nông lâm sản theo 7 phân khúc mục tiêu thuộc 3 nhóm ngành nghề, ngành hàng; Xây dựng mạng lưới Điểm sàn địa danh các cấp; Triển khai 6 nhóm Dịch vụ Công – tư; Xây dựng Cơ chế hợp tác thông quan 3 Chuỗi mô hình: Nông nghiệp sinh thái, Chế biến bảo quản, Thương mại dịch vụ.

Mục tiêu của Hệ thống AFDEX là Phát triển, nhân rộng các “Chuỗi mô hình” và “Giải pháp Đồng bộ Phát triển Kinh tế Địa phương” theo Giải pháp AFDEX trên địa bàn toàn quốc; Thiết lập “Chuỗi Cung cầu Nông sản Việt” trong thời kỳ chuyển đổi số ngành Nông nghiệp, trong đó bao gồm “Chuỗi giá trị chuyển đổi số”, đồng thời phát huy vai trò, vị thế và sứ mệnh của Liên minh HTX Việt Nam; Nâng cao văn hóa, nhận thức về ý thức, trách nhiệm phát triển cộng đồng và tư duy số hóa trong “Giao thoa cung cầu”; Nâng tầm chủ thể HTX, đồng thời phát huy đúng vai trò, vị thế và nghĩa vụ của HTX trong nền kinh tế quốc gia; Phát huy tinh thần khởi nghiệp nông nghiệp, nhân rộng “Mô hình tự doanh”, đồng thời khuyến khích tinh thần trách nhiệm của doanh nhân, doanh nghiệp tự cường trong hội nhập toàn cầu, đảm bảo tính cạnh tranh và từng bước đưa Việt Nam thành “Sàn Giao dịch Bán sỉ Nông sản Toàn cầu” theo Giải pháp AFDEX; Phối hợp tổ chức đào tạo và phổ cập quốc tế và trong nước về tín chỉ Carbon; Phối hợp tổ chức đào tạo và phổ cập kiến thức về tín chỉ Carbon (Thương mại xanh) đến chủ thể HTX thành viên trên địa bàn cả nước.

Quang cảnh buổi làm việc

Tại buổi làm việc, Hệ thống AFDEX đã trình bày mục tiêu, kế hoạch hợp tác với VCA trong tương lai, cùng với đó, AFDEX đề xuất được ký kết “Thỏa thuận Hợp tác Chiến lược” bao gồm “Quy chế Phối hợp” và “Chương trình Hợp tác Thiết lập Chuỗi Giá trị chuyển đổi số và hỗ trợ phát triển HTX kiểu mới” bằng Giải pháp AFDEX trên địa bàn toàn quốc vào thời điểm phù hợp.

Sau khi thảo luận và tìm hiểu về Hệ thống AFDEX, Chủ tịch Liên minh HTX Việt Nam Nguyễn Ngọc Bảo mong muốn hệ thống AFDEX sẽ hỗ trợ, cung cấp các giải pháp cho bà con HTX theo mô hình chuỗi. Bên cạnh đó, trong thời gian tới hai bên sẽ tiếp tục trao đổi và xây dựng kế hoạch cụ thể nhằm thúc đẩy kinh tế cho bà con khu vực KTTT, HTX.

Trung tâm Thông tin – Tuyên truyền

Phát triển kinh tế tập thể nhanh, hiệu quả và bền vững

(ĐHXIII) – Trong năm 2021, Liên minh Hợp tác xã (HTX) Việt Nam xác định mục tiêu phát triển kinh tế tập thể (KTTT), HTX nhanh, hiệu quả và bền vững; đa dạng về loại hình, hình thức hợp tác trong các ngành nghề, lĩnh vực, thành phần kinh tế và địa bàn, nhất là khu vực nông nghiệp, nông dân và nông thôn, phù hợp với điều kiện của từng địa phương.

Sản phẩm tiêu biểu của các Hợp tác xã được trưng bày tại Triển lãm thành tựu phát triển của kinh tế tập thể, hợp tác xã giai đoạn 2016 – 2020

Theo Liên minh HTX Việt Nam, trong năm 2020, hệ thống Liên minh HTX Việt Nam đã triển khai đồng bộ và hiệu quả, hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ; tổ chức thành công Đại hội Liên minh HTX cấp tỉnh và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, nhiệm kỳ 2020 – 2025; tiếp tục giữ vai trò nòng cốt trong phát triển KTTT, HTX; vị thế, uy tín của hệ thống Liên minh HTX Việt Nam ở trong nước và các tổ chức quốc tế được nâng cao. KTTT, HTX tiếp tục phát triển cả về số lượng và chất lượng, gắn với quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn; góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập, xóa đói, giảm nghèo cho các thành viên, xây dựng nông thôn mới, bảo đảm an sinh, an ninh xã hội.

Năm 2021 hệ thống Liên minh HTX Việt Nam tập trung triển khai 10 nhiệm vụ chủ yếu, 5 chương trình hành động trọng tâm theo Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, nhiệm kỳ 2020-2025 với phương châm “Hợp tác – Đổi mới – Phát triển – Hiệu quả” và quyết tâm “Tiếp tục phát huy vai trò nòng cốt trong phát triển KTTT, HTX; đẩy mạnh xây dựng hệ thống Liên minh HTX Việt Nam vững mạnh, thực hiện hiệu quả chức năng đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của thành viên”.

Theo đó, mục tiêu trong năm 2021, Liên minh HTX Việt Nam phấn đấu phát triển kinh tế tập thể, HTX nhanh, hiệu quả và bền vững; đa dạng về loại hình, hình thức hợp tác trong các ngành nghề, lĩnh vực, thành phần kinh tế và địa bàn, nhất là khu vực nông nghiệp, nông dân và nông thôn, phù hợp với điều kiện của từng địa phương. Cùng với đó, sản xuất gắn với chuỗi giá trị; củng cố, tổ chức lại hoạt động của các HTX, liên hiệp HTX, tổ hợp tác hiện có; phối hợp chặt chẽ với cơ quan quản lý nhà nước thực hiện giải thể các HTX ngừng hoạt động hoặc hoạt động kém hiệu quả kéo dài không có khả năng củng cố, tổ chức lại.

Cụ thể, đối với phát triển kinh tế tập thể, HTX, hầu hết thành viên HTX, liên hiệp HTX, tổ hợp tác (THT) và bộ phận lớn người dân được tuyên truyền, phổ biến chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, của cấp ủy và chính quyền địa phương về kinh tế tập thể, HTX. Chủ trì, vận động, tư vấn, hỗ trợ thành lập mới ít nhất 1.500 HTX; 15 liên hiệp HTX, 2.500 THT hoạt động theo Nghị định số 77/2019/NĐ-CP ngày 10/10/2019; xây dựng 200 mô hình HTX ứng dụng công nghệ cao, sản xuất gắn với chuỗi giá trị sản phẩm chủ lực quốc gia, vùng, địa phương; tỷ lệ HTX hoạt động hiệu quả đạt 60% trong tổng số HTX; thu hút hộ cá thể, cá nhân, tổ chức khác là thành viên của HTX, THT tăng 10% so với năm 2020, trong đó 35% hộ cá thể ở địa bàn nông thôn là thành viên HTX, THT.

Để xây dựng và phát triển hệ thống, Liên minh HTX Việt Nam phấn đấu thu hút thành viên tăng thêm so với năm 2020 ít nhất 10% số HTX và thu hút 100% liên hiệp HTX là thành viên (chính thức) của hệ thống Liên minh HTX Việt Nam; đào tạo, bồi dưỡng tăng thêm so với năm 2020 ít nhất 10% số cán bộ quản lý HTX và 15% số cán bộ, viên chức và người lao động của hệ thống Liên minh HTX Việt Nam theo vị trí việc làm; đảm bảo đủ năng lực thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao.

Để đạt được mục tiêu đề ra, Chủ tịch Liên minh HTX Việt Nam Nguyễn Ngọc Bảo cho biết, trong năm 2021 sẽ đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tổ chức thực hiện hiệu quả Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc Liên minh HTX Việt Nam và các nhiệm vụ, giải pháp tại Đại hội Liên minh HTX cấp tỉnh nhiệm kỳ 2020 – 2025. Đồng thời, chủ động triển khai nghiên cứu lý luận và thực tiễn, tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước, cấp ủy và chính quyền địa phương chủ trương, chính sách và pháp luật phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã. Ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại, đổi mới phương thức thông tin, tuyên truyền về phát triển KTTT, HTX và thu hút thành viên. Nâng cao chất lượng tư vấn, hỗ trợ phát triển HTX, liên hiệp HTX, tổ hợp tác, phối hợp hiệu quả nguồn lực của Liên minh HTX Việt Nam, Liên minh HTX cấp tỉnh và các nguồn lực khác đẩy mạnh hỗ trợ xúc tiến thương mại và xây dựng mô hình HTX sản xuất gắn với chuỗi giá trị…

Theo ĐP

Việt Nam ‘phấn đấu trở thành quốc gia số’ vào năm 2030

Đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phấn đấu trở thành quốc gia số là một trong những nội dung của Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm tới.

Sáng 28/3, tại hội nghị trực tuyến toàn quốc quán triệt nghị quyết Đại hội XIII, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã giới thiệu chuyên đề Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2021-2030 và phương hướng, nhiệm vụ 5 năm tới (2021-2025).

Theo đó, sau 35 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn còn những tồn tại, hạn chế, tiềm ẩn nhiều rủi ro; trình độ khoa học công nghệ, năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh còn thấp; tăng trưởng GDP có xu hướng chững lại, nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình và tụt hậu…

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nêu rõ, trong khó khăn thách thức, “chúng ta phải đổi mới tư duy phát triển, thay đổi cách làm”; đẩy mạnh cải cách thể chế, ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

“Thực hiện quyết liệt chuyển đổi số, xây dựng nền kinh tế số, thúc đẩy phát triển kết cấu hạ tầng quy mô lớn, đẩy mạnh tiêu dùng nội địa, giải quyết việc làm”, ông nói.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại hội nghị trực tuyến toàn quốc quán triệt nghị quyết Đại hội XIII. Ảnh: VGP
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại hội nghị trực tuyến toàn quốc quán triệt nghị quyết Đại hội XIII, sáng 28/3. Ảnh: VGP

Lãnh đạo Chính phủ cho biết Việt Nam ưu tiên chuyển đổi số trong một số ngành, lĩnh vực như y tế, giáo dục đào tạo, tài chính ngân hàng, nông nghiệp, giao thông vận tải và logistics, năng lượng, tài nguyên môi trường, sản xuất công nghiệp.

Chiến lược phát triển 10 năm tới đưa ra định hướng phát triển một số doanh nghiệp viễn thông, công nghệ thông tin, doanh nghiệp số chủ lực thực hiện tốt vai trò dẫn dắt về hạ tầng công nghệ số, làm nền tảng cho nền kinh tế số, xã hội số.

“Phấn đấu đến năm 2030 Việt Nam trở thành quốc gia số, ổn định và thịnh vượng, tiên phong thử nghiệm các công nghệ và mô hình mới…”, Thủ tướng nói.

Chiến lược cũng xác định 11 chỉ tiêu, gồm 7 chỉ tiêu kinh tế, 4 chỉ tiêu môi trường. Trong đó, áp lực đối với Việt Nam là liên tục tăng trưởng cao, nếu không sẽ tụt hậu… “Năm nay, chúng ta phấn đấu 6-6,5%, sang năm có thể 7%, nhưng sắp tới phải 8-9% bình quân”, Thủ tướng nhấn mạnh.

Tại hội nghị hôm qua (27/3), Trưởng ban Tổ chức Trung ương Phạm Minh Chính đã báo cáo nội dung tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng của Trung ương khóa XII trình Đại hội XIII.

Ông cho biết Đại hội XIII xác định nhiều nhóm nhiệm vụ, giải pháp về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Trong đó có việc tiếp tục đổi mới, hoàn thiện tổ chức bộ máy và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị; tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu…

“Thắt chặt hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, trong đó lưu ý cần tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ thật sự trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân và có trách nhiệm với dân”, ông Phạm Minh Chính nói.

Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Phạm Minh Chính. Ảnh: Hoàng Phong
Trưởng ban Tổ chức Trung ương Phạm Minh Chính. Ảnh: Hoàng Phong

Theo Trưởng ban Tổ chức Trung ương, Đại hội XIII không đặt vấn đề sửa đổi điều lệ Đảng. Tuy nhiên, chương trình làm việc toàn khóa của Ban chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị đã đặt đặt vấn đề nghiên cứu, tổng kết việc thi hành Điều lệ Đảng và dự kiến sẽ tổng kết vào năm thứ 2 thứ 3 của nhiệm kỳ, trên cơ sở đó có thể bổ sung, sửa đổi nếu thấy cần thiết.

Diễn ra trong 2 ngày 27-28/3, hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội XIII được truyền trực tiếp từ điểm cầu Trung ương tại Phòng họp Diên Hồng (Nhà Quốc hội) tới 67 điểm cầu các Tỉnh ủy, Thành ủy, Đảng ủy trực thuộc Trung ương và được mở rộng đến hơn 7.300 điểm cầu cơ sở.

Lần đầu tiên gần một triệu đảng viên (chiếm gần 1/5 số đảng viên toàn quốc) được các lãnh đạo cấp cao của Đảng trong vai trò báo cáo viên trực tiếp quán triệt những nội dung chính của nghị quyết Đại hội XIII.

Hoàng Thùy

Áp dụng công nghệ số nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Áp dụng công nghệ số nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đặt ra nhiệm vụ phát triển KT-XH giai đoạn mới đã đề cập đến thực hiện chuyển đổi số, phát triển kinh tế số, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế. Qua đó, tạo động lực phát triển kinh tế đất nước nhanh và bền vững.

Công nghệ luôn là phương thức và công cụ mạnh nhất để xây dựng một xã hội thịnh vượng vượt trội trong mọi thời đại. Trong lịch sử của mình, xã hội loài người đã trải qua 3 cuộc cách mạng công nghệ và đang bước vào cuộc cách mạng công nghệ lần thứ 4.

Với nền tảng và sự nổi trội của mình, có thể nói kỹ thuật số sẽ chinh phục đời sống thế giới vì tính phổ thông trong sử dụng cùng tính lan toả tới mọi lĩnh vực trong xã hội với chi phí ngày càng giảm cho người sử dụng cũng như thúc đẩy đổi mới để tạo ra sản phẩm mới lạ.

Kỹ thuật số giúp thay đổi phương thức sản xuất và giao dịch giữa các thực thể trong nền kinh tế và con người nên có ảnh hưởng mạnh mẽ đến nền kinh tế toàn cầu, kinh tế khu vực, từng quốc gia và các địa  phương.

Tác động qua lại giữa áp dụng kỹ thuật số và tăng trưởng kinh tế

Kỹ thuật số theo nghĩa rộng được hiểu là kỹ thuật thông tin truyền thông (ICT) bao gồm các kỹ nghệ hợp thành như: Máy tính điện tử, chương trình phần mềm, internet, băng thông rộng, điện thoại di động …

Các nghiên cứu về mối tương quan giữa đầu tư phát triển kỹ thuật số với tăng trưởng kinh tế tại Mỹ và các nước thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) giai đoạn 1980-2011 cho thấy cứ tăng 10 điểm phần trăm trong sử dụng điện thoại di động dẫn tới GDP tăng 0,21 điểm phần trăm ở các nước thu nhập cao và tăng 0,4 điểm phần trăm ở các nước thu nhập thấp và trung bình.

Tương tự, hiệu quả sử dụng internet trong sản xuất kinh doanh dẫn đến tăng trưởng GDP ở các nước OECD đang phát triển cao hơn các nước phát triển. Cụ thể trong giai đoạn 1980-2011, cứ tăng 10 điểm phần trăm sử dụng internet trong sản xuất kinh doanh dẫn tới GDP tăng 1,35 điểm phần trăm đối với các nước đang phát triển so với tăng 1,19 điểm phần trăm đối với các nước phát triển. Đặc biệt tăng 10 điểm phần trăm tỷ lệ sử dụng băng thông rộng dẫn tới GDP bình quân đầu người tăng 1,38 điểm phần trăm ở các nước đang phát triển và tăng 1,21 điểm phần trăm ở  các nước phát triển.

Đối với nền kinh tế và khu vực doanh nghiệp (DN), phát triển và áp dụng kỹ thuật số đem lại một số lợi ích như: Thúc đẩy hoạt động phổ biến và ứng dụng công nghệ, nâng cao chất lượng sử dụng nguồn lực; giảm chi phí sản xuất, kích cầu tiêu dùng và đầu tư; thúc đẩy thương mại quốc tế, giảm chi phí giao dịch; tạo nền tảng cho các nước đang phát triển bắt kịp các nước phát triển bằng việc nâng cao năng suất theo phương thức “nhảy cóc”; thúc đẩy tiếp cận thị trường; giảm sự mất cân đối thông tin giữa người mua và nhà cung cấp, giảm chi phí môi giới…

Hiện nay, khi đại dịch COVID-19 xuất hiện khiến DN buộc phải nỗ lực thích ứng với công nghệ số. Áp dụng công nghệ số làm cho DN nâng cao khả năng tiếp cận thông tin để vững tin trong việc ra quyết định; nâng cao hiệu quả phối hợp trong sản xuất kinh doanh và cơ hội hoà vào mạng lưới sản xuất kinh doanh trong nước, khu vực và thế giới; giúp DN duy trì mối quan hệ kinh doanh với các đối tác… Điều này sẽ giúp DN không bị gián đoạn trong sản xuất, kinh doanh, qua đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển.

Nỗ lực áp dụng công nghệ số để phát triển

Trên nền tảng của nhiều công nghệ mới mà cốt lõi là công nghệ số (trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, chuỗi khối, điện toán đám mây, Internet vạn vật…), chuyển đổi số đang tạo ra không gian phát triển mới – kinh tế số, xã hội số, Chính phủ điện tử. Đặc biệt, chuyển đổi số mở ra cơ hội to lớn cho Việt Nam phát triển đột phá, nhanh chóng bắt kịp các nước phát triển cũng chỉ mới bắt đầu quá trình chuyển đổi số.

Đây vừa là mục tiêu, vừa là thách thức cho công cuộc chuyển đổi số của các DN Việt Nam do việc chuyển đổi số trong các DN nước ta còn rất khiêm tốn.

Theo khảo sát của Hiệp hội Phần mềm và Dịch vụ CNTT Việt Nam, hiện cả nước chỉ có khoảng 15% DN đang áp dụng chuyển đổi số và chỉ các DN lớn mới có bộ phận CNTT, còn các DN nhỏ vẫn hạn chế.  Nguyên nhân là do phần lớn các DN có quy mô nhỏ và vừa chưa tham gia nhiều vào quá trình chuyển đổi số vì gặp khó khăn về vốn, nhưng cũng có một phận DN coi đây là câu chuyện của DN lớn do chi phí đầu tư cao, hạ tầng CNTT, nguồn nhân lực chuyển đổi số hạn chế…javascript:void(0)

Một nguyên nhân khác là các quy định và quy tắc của DN không phù hợp với số hóa; thiếu cam kết, hiểu biết của người lao động và lãnh đạo DN…

Với thực trạng này, việc chuyển đổi số nên triển khai từ những khâu nhỏ nhất. trong đó, đòi hỏi đội ngũ lao động phải có kỹ năng phù hợp. Các DN phải sắp xếp lại quy trình sản xuất; cơ cấu lại tổ chức; đào tạo, sắp xếp lại bộ máy tinh gọn, hợp lý (một thực tế tại Brazil cho thấy các DN áp dụng kỹ thuật số có được năng suất tăng chỉ sau khi đã minh bạch cơ cấu tổ chức của DN).

Để thực hiện thành công việc minh bạch cơ cấu và sắp xếp lại tổ chức đòi hỏi người lao động phải trách nhiệm, chủ động và tự chủ hơn.

Hiện nay, áp dụng kỹ thuật số cũng giống như các cuộc cách mạng công nghiệp trước đây là xu thế không thể đảo ngược. Công nghệ kỹ thuật số sẽ lan nhanh và mạnh hơn, vì vậy giải pháp duy nhất đúng đó là đưa ra các chính sách thông minh nhằm tối đa hoá lợi ích của công nghệ kỹ thuật số, đồng thời giảm thiểu những bất cập, gián đoạn ngắn hạn không thể tránh khỏi. Cần tập trung vào các chính sách, giải pháp đáp ứng những thay đổi về tổ chức do cuộc cách mạng kỹ thuật số mang đến.

Trong bối cảnh quốc tế thay đổi sâu sắc và toàn diện, trong đó có tác động của đại dịch COVID -19, với tốc độ phát triển rất nhanh của công nghệ số, với thực tiễn tiềm lực kinh tế, chất lượng nguồn nhân lực của đất nước, để áp dụng công nghệ kỹ thuật số, trước mắt, chúng ta cần nghiên cứu, xây dựng và thực hiện một số giải pháp.

Theo đó, khẩn trương xây dựng và triển khai thực hiện hiệu quả chiến lược phát triển và áp dụng kỹ thuật số; chiến lược đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực; tạo căn cứ pháp lý, nguồn lực tài chính để xây dựng cơ sở hạ tầng cho phát triển và áp dụng kỹ thuật số, đồng thời đào tạo cung cấp lực lượng lao động có chuyên môn, kỹ năng tốt, phù hợp nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển, áp dụng kỹ thuật số của nền kinh tế.

Đẩy mạnh việc xây dựng các cơ sở dữ liệu quốc gia, có cơ chế truy cập, chia sẻ thông tin những cơ sở dữ liệu này cho các đối tượng sử dụng phù hợp. Bên cạnh đó, thiết lập và vận hành đơn vị cung cấp dịch vụ thông tin thị trường cho các tổ chức kinh tế và người tiêu dùng nhằm giảm bất cập và tác hại do thông tin không đầy đủ gây ra.

Khẩn trương xây dựng nền tảng kỹ thuật số vững mạnh, phù hợp với đặc trưng và cơ cấu kinh tế nước ta, đồng thời bắt nhịp được tiến trình phát triển và áp dụng kỹ thuật số của thế giới. Ở lĩnh vực này cần sự vào cuộc mạnh mẽ của Bộ TT&TT, Bộ KH&CN cùng các tập đoàn viễn thông lớn, tiềm lực mạnh.

Khẩn trương triển khai chương trình truyền thông nhằm phổ biến quan điểm, mục tiêu, các giải pháp thực hiện phát triển và áp dụng kỹ thuật số; đặc biệt phổ biến, đào tạo cho các tổ chức và khu vực doanh nghiệp hiểu rõ những nội dung về phát triển và áp dụng kỹ thuật số ở Việt Nam phù hợp với đặc trưng riêng của từng tổ chức, với khu vực doanh nghiệp trong các lĩnh vực kinh tế khác nhau.

Xây dựng cơ chế tài chính phù hợp nhằm cung cấp, hỗ trợ tín dụng cho các tổ chức, đặc biệt là khu vực DN thực hiện xây dựng và áp dụng kỹ thuật số trong hoạt động, sản xuất kinh doanh, đồng thời hội nhập tiến trình áp dụng kỹ thuật số trên thế giới.

Trong điều kiện hạn chế về nguồn nhân lực và vật lực, Chính phủ cần xác định ngành, lĩnh vực ưu tiên phát triển trước, tránh đầu tư dàn trải để tạo cơ sở và nền tảng cho phát triển áp dụng công nghệ kỹ thuật số.

Đẩy mạnh hợp tác quốc tế, học tập kinh nghiệm của các quốc gia khác nhằm áp dụng hiệu quả và phù hợp với nhu cầu và điều kiện thực tiễn của nước ta.