Author Archives: admin

Để kinh tế tập thể ngày càng phát triển mạnh hơn, đúng đắn và lành mạnh hơn

Tại Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII), Trung ương sẽ xem xét về vấn đề tổng kết 20 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khoá IX tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể.

Zalo
Hội nghị Trung ương 5 (Khóa XIII) sẽ xem xét về vấn đề tổng kết 20 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khoá IX tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể – Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho biết, Cương lĩnh của Đảng, Hiến pháp của Nhà nước và các Nghị quyết Đại hội Đảng đều khẳng định vị trí, ý nghĩa, vai trò quan trọng của kinh tế tập thể; xác định phát triển kinh tế tập thể cùng với kinh tế nhà nước ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân.

Để đổi mới, nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể phù hợp với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, khắc phục những hạn chế, yếu kém của mô hình hợp tác xã kiểu cũ, ngày 18/3/2002, Hội nghị Trung ương 5 khoá IX đã ban hành Nghị quyết số 13-NQ/TW về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể.

Báo cáo tổng kết 20 năm (2002-2022) thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khoá IX đã được xây dựng công phu, nghiêm túc trên cơ sở Báo cáo tổng kết, báo cáo chuyên đề của các bộ, ban, ngành, cơ quan Trung ương và 63 tỉnh uỷ, thành uỷ trực thuộc Trung ương; kết quả nghiên cứu, khảo sát của Ban Chỉ đạo tại một số địa phương; ý kiến tham gia tại 12 cuộc hội thảo chuyên đề, 3 Hội nghị cán bộ toàn quốc tổng kết 20 năm thực hiện Nghị quyết, và Báo cáo tư vấn của Hội đồng Lý luận Trung ương.

Qua tổng kết cho thấy, sau 20 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khoá IX, khu vực kinh tế tập thể nước ta đã có những chuyển biến tích cực, quan trọng. Nhận thức trong hệ thống chính trị, các tầng lớp nhân dân về phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã được nâng lên. Hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách được quan tâm xây dựng, phù hợp với từng giai đoạn phát triển. Hợp tác xã đã cơ bản hoàn thành việc chuyển đổi theo quy định của pháp luật

Số lượng hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thành lập mới tăng đáng kể; nhiều hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã phát triển đa dạng hơn về ngành nghề, quy mô và trình độ, hỗ trợ tốt hơn cho kinh tế thành viên, tạo việc làm và thu nhập thường xuyên cho người lao động. Tổ hợp tác với cơ cấu tổ chức gọn nhẹ, nội dung hoạt động đơn giản nhưng thiết thực, đáp ứng được nhu cầu liên kết linh hoạt và mang tính ngắn hạn của người dân.

Liên kết giữa các hợp tác xã với nhau và với các tổ chức kinh tế khác bước đầu có sự phát triển. Khu vực kinh tế tập thể cơ bản đã khắc phục được tình trạng yếu kém kéo dài, góp phần xây dựng nông thôn mới, bảo đảm an sinh, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, từng bước khẳng định vị trí, vai trò nền tảng trong nền kinh tế quốc dân.

Tuy nhiên, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho rằng, khu vực kinh tế tập thể của nước ta đến nay vẫn chưa đạt mức phát triển như mục tiêu, yêu cầu đề ra. Đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể còn gặp nhiều khó khăn. Tốc độ tăng trưởng, tỉ trọng đóng góp vào GDP cả nước của khu vực kinh tế tập thể còn thấp và có xu hướng giảm dần. Hợp tác xã phát triển không đồng đều giữa các vùng, các miền; giữa khu vực nông nghiệp và phi nông nghiệp.

Hoạt động hợp tác xã chưa trở thành phong trào để thu hút xã viên, hội viên. Số lượng hợp tác xã tuy tăng, nhưng số lượng thành viên bình quân trong hợp tác xã có xu hướng giảm; thành viên tham gia vào hoạt động của hợp tác xã còn hình thức, chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình trong hợp tác xã. Năng lực nội tại của hợp tác xã còn yếu, hiệu quả hoạt động chưa cao.

Phần lớn các tổ hợp tác, hợp tác xã có quy mô nhỏ, vốn ít, phạm vi hoạt động hẹp, lợi ích mang lại cho thành viên còn thấp; tính liên kết trong nội bộ hợp tác xã rất yếu; các hoạt động liên doanh, liên kết giữa các hợp tác xã và giữa hợp tác xã với các tổ chức kinh tế khác chưa phổ biến. Số lượng liên hiệp hợp tác xã còn ít; tổ chức và hoạt động của tổ hợp tác thiếu ổn định; nhiều hợp tác xã chuyển đổi còn mang tính hình thức, chưa thực sự có chuyển biến về chất.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề nghị các đồng chí Trung ương và các đồng chí tham dự hội nghị xuất phát từ thực tiễn, thảo luận, đánh giá một cách khách quan, khoa học về những kết quả, thành tích đã đạt được; đồng thời phân tích sâu sắc những hạn chế, yếu kém còn tồn tại và nguyên nhân.

Từ đó, bám sát Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và thực tế đất nước, tập trung thảo luận làm rõ, tạo sự thống nhất cao trong toàn Đảng, toàn dân về mục tiêu, quan điểm, tư tưởng chỉ đạo và những nhiệm vụ, giải pháp lớn cần được quán triệt và triển khai thực hiện để kinh tế tập thể ngày càng phát triển mạnh hơn, đúng đắn và lành mạnh hơn, thực sự trở thành một thành phần kinh tế quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Đưa cơ chế chính sách cho phát triển HTX nông nghiệp vào thực tiễn

Tháo gỡ những khó khăn vướng mắc từ thể chế là một trong những vấn đề quan trọng giúp khu vực kinh tế tập thể, HTX thích ứng với thị trường và phát triển bình đẳng như các thành phần kinh tế khác trong nền kinh tế thị trường.

Tại Hội thảo khoa học “Một số vấn đề lý luận – thực tiễn về phát triển HTX nông nghiệp ở Việt Nam trong bối cảnh mới”, các đại biểu khẳng định, mô hình kinh tế tập thể (KTTT), HTX đã góp phần khắc phục tình trạng phân tán, sản xuất manh mún nhỏ lẻ, tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hóa lớn, đồng nhất, đáp ứng tiêu chuẩn, yêu cầu chất lượng của thị trường.

Tháo gỡ về tín dụng

Tuy nhiên, sự phát triển của HTX nhìn chung còn chậm. Số lượng HTX tăng nhưng số lượng thành viên trung bình của một HTX giảm xuống . Cụ thể là năm 2001, trung bình một HTX có 478 thành viên nhưng đến năm 2021 chỉ còn 208 thành viên. Đa số HTX có quy mô nhỏ, cơ sở vật chất, trình độ khoa học công nghệ, tiềm lực tài chính yếu, năng lực của độ ngũ cán bộ, phạm vi hoạt động của HTX hạn chế…

Nguyên nhân của tình trạng trên có rất nhiều, có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, trực tiếp và gián tiếp, trong đó quan trọng nhất là những nguyên nhân từ thể chế, từ cơ chế, chính sách, sự quan tâm, hỗ trợ nguồn lực từ Nhà nước và việc thực hiện cơ chế, chính sách đều chưa đủ mức, chưa tạo được động lực và những điều kiện thuận lợi cho KTTT, HTX phát triển.

Cụ thể nhất là chính sách tín dụng cho khu vực KTTT, HTX tuy đã được ban hành nhưng vẫn chưa đi sâu vào thực tiễn. Điều này được thể hiện qua số dư nợ đối với HTX, liên hiệp HTX, đặc biệt là dư nợ đối với các HTX nông nghiệp chiếm tỷ trọng rất thấp.

Theo Viện Chiến lược Ngân hàng, dư nợ cho nền kinh tế đến cuối năm 2021 là 9.680.000 tỷ đồng. Trong đó, tổng dư nợ cho lĩnh vực nông nghiệp nông thôn là 2.420.641 tỷ đồng, chỉ chiếm 25% tổng dư nợ cho nền kinh tế, nhưng tổng dư nợ cho HTX, liên hiệp HTX chỉ chiếm 1.137 tỷ đồng. Điều này cho thấy sự chênh lệch về nguồn đầu tư tín dụng cho khu vực KTTT, HTX.

Nguyên nhân là do các HTX hạn chế về tổ chức, quản trị điều hành, năng lực quản lý tài chính và đội ngũ cán bộ quản lý chủ yếu theo kinh nghiệm, chưa được đào tạo cơ bản và ít được cập nhật kiến thức mới.

Mối quan hệ giữa HTX và các thành viên còn thiếu sự gắn kết khiến không ít thành viên tự đứng lên vay vốn bên ngoài chứ không thông qua HTX. Điều này rất khó khăn trong việc thuyết phục các tổ chức tín dụng (TCTD) trong quá trình thẩm định phương án vay.

Bên cạnh đó, các HTX còn hạn chế về năng lực tài chính. Cụ thể là muốn vay được vốn để triển khai dự án mới, HTX phải có nguồn vốn đối ứng tối thiểu từ 200-300 triệu đồng (chiếm từ 20-30% tổng nguồn vốn) nhưng nhiều HTX không đáp ứng được.

Các HTX ngành nghề cũng chưa có sự liên kết để tăng vốn theo quá trình hoạt động. Đi cùng với đó là hiệu quả hoạt động của mô hình HTX còn chưa cao, số lượng dịch vụ ít. Sản phẩm chưa có thương hiệu trên thị trường và chưa có sự liên kết chặt chẽ theo chuỗi giá trị nên chưa đáp ứng khả năng cạnh tranh trên thị trường, khó đáp ứng các điều kiện vay vốn.

Còn về phía các TCTD đang gặp khó khăn trong quá trình thẩm định và chấp nhận các điều khoản vay vốn của các HTX do HTX thiếu hoặc không có các điều kiện đảm bảo.

Nhiều HTX có thành viên góp vốn bằng tài sản nhưng vẫn mang tên chủ sở hữu và chưa chuyển tên cho HTX nên không đủ điều kiện pháp lý để HTX sử dụng các tài sản này bảo đảm cho các khoản vay.

Quy trình thủ tục cho vay cho các HTX nông nghiệp theo Nghị định 55 chưa hiệu quả. Cụ thể là chính sách tín dụng phát triển sản xuất nông nghiệp theo mô hình liên kết ứng dụng công nghệ cao được quy định tại điều 14, 15 đòi hỏi các TCTD phải áp dụng một quy trình riêng biệt, đặc thù để kiểm soát tốt khả năng liên kết của HTX với chủ thể tham gia chuỗi.

Tuy nhiên hiện nay, hầu hết các TCTD vẫn thực hiện xét duyệt hồ sơ vay theo các mô hình cho vay truyền thống. Do vậy khi thẩm định phương án vay vốn cho HTX theo Nghị định 55 phải mất nhiều thời gian, công sức và tiềm ẩn nhiều rủi ro.

5t-4615-1651058028.jpg

Cơ chế chính sách cho HTX cần thông thoáng, phù hợp với kinh tế thị trường.

Ngoài ra, các TCTD cũng gặp khó khăn trong việc giám sát các điều kiện cho vay. Việc cho vay đối với các mô hình sản xuất nông nghiệp vẫn kém hấp dẫn, tiềm ẩn nhiều rủi ro, chịu tác động trực tiếp từ thị trường, khí hậu… nên chưa hấp dẫn được các TCTD tham gia.

Bà Đỗ Thị Bích Hồng, Phó trưởng phòng Chiến lược ngành ngân hàng, Viện Chiến lược ngân hàng (Ngân hàng Nhà nước) cho biết kinh nghiệm ở Canada cho thấy, Nhà nước sẽ có các quỹ, cơ chế ưu đãi chuyển vốn cho các ngân hàng thương mại để cho các HTX vay. Nhưng hiện ở Việt Nam, các ngân hàng vẫn phải tự huy động, chịu trách nhiệm về việc cho HTX vay nhưng phải thu được nợ. Chính vì vậy, các ngân hàng luôn phải đề cao tính chịu trách nhiệm và luôn chặt chẽ, minh bạch trong mọi khoản vay, kể cả đối với HTX.

Nhằm giải quyết vấn đề này, các HTX cần chủ động rà soát, nâng cao hoạt động quản lý, tài chính… để có kế hoạch sản xuất cụ thể, hiệu quả theo chuỗi giá trị, từ đó tạo thêm niềm tin cho các TCTD trong quá trình xem xét các điều khoản cho vay.

Còn đối với các TCTD cần tiếp tục chủ động đa dạng các hình thức huy động để mở rộng nguồn vốn cho vay đối với nông nghiệp nông thôn nói chung và các HTX nói riêng. Các ngân hàng cũng cần tăng các phương án thẩm định đối với HTX thay vì chỉ phụ thuộc vào các tài sản đảm bảo. Đồng thời, thực hiện giảm thiểu thủ tục rườm rà để HTX dễ tiếp cận quy trình.

Luật HTX phải theo định hướng thị trường

Ngoài rào cản về vay tín dụng, những hạn chế của Luật HTX năm 2012 cũng đang kìm hãm sự phát triển của khu vực KTTT, HTX.

Chẳng hạn như quy định về tỷ lệ góp vốn còn hạn chế, không cho phép thành viên chuyển nhượng vốn cho chủ thể khác. Hay những ai không sử dụng dịch vụ của HTX thì không được tham gia và không trở thành thành viên của HTX.

Theo TS Hoàng Vũ Quang, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và chính sách (Bộ NN&PTNT), những điều này không tối đa hóa lợi ích ngắn hạn của thành viên nên nhiều người không muốn đầu tư vào HTX và khiến HTX khó kết nạp thành viên mới.

Ngoài ra, vấn đề quản lý nhà nước đối với HTX trong Luật HTX năm 2012 còn nhiều hạn chế. Cụ thể là tại điều 59 và 60 chưa làm rõ được trách nhiệm của Nhà nước đối với giai đoạn hiện nay như chưa đề cao vai trò của việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý HTX, cũng như chưa có sự trao đổi, phối hợp, quản lý thông tin giữa các bộ ngành, cơ quan ngang bộ…

Không chỉ vậy, Luật HTX năm 2012 quy định lợi nhuận sau thuế phần lớn là theo mức độ sử dụng dịch vụ của thành viên, gây khó cho HTX trong quá trình huy động nguồn vốn.

TS Hoàng Vũ Quang cho biết Luật HTX năm 2012 hiện nay có những quy định cứng nhắc về mô hình quản trị HTX, khiến HTX khó mở rộng quy mô, ít quan tâm đến hoạt động HTX trong nền kinh tế thị trường.

Để tạo động lực, khuyến khích người dân tham gia, phát triển HTX, quá trình sửa đổi, bổ sung Luật HTX năm 2012 cần bảo đảm tôn trọng một số nguyên tắc cơ bản của HTX, phù hợp với điều kiện thị trường, công nghệ luôn thay đổi, đó là nguyên tắc HTX được tôn trọng, bình đẳng với các tác nhân khác. Mức độ hỗ trợ của Nhà nước cho HTX phải gắn với mức độ HTX phục vụ thành viên.

Bên cạnh đó, các bộ ngành cần xem xét, nghiên cứu sửa đổi Luật HTX 2012 dựa trên quá trình tổng kết Nghị quyết số 13-NQ/TW, đồng thời nghiên cứu, hoàn thiện các quy định về KTTT, HTX theo hướng tinh gọn, phân định rõ vai trò của cơ quan quản lý nhà nước ở các cấp trong quản lý khu vực KTTT, HTX…

TS Nguyễn Ngọc Bảo, Chủ tịch Liên minh HTX Việt Nam, cho biết phần lớn các nước đều khẳng định HTX là mô hình đem lại hiệu quả cho thành viên và người dân, thúc đẩy kinh tế đất nước phát triển. Động cơ hoạt động của HTX là tuân theo các định hướng của nền kinh tế thị trường, hiệu quả hoạt động của HTX là nhờ vào quy mô. Chẳng hạn như tại Trung Quốc, HTX là cầu nối giữa các tầng lớp nhân dân với Đảng, Nhà nước. Tại Nhật Bản, 99,2% các nông trại là của các HTX; hay tại Hà Lan, có 17 triệu dân nhưng lại có đến 30 triệu thành viên HTX, tức 1 người có thể tham gia từ 2 HTX.

“Chính vì vậy, các cơ chế chính sách cần tạo điều kiện giúp HTX phát triển, mở rộng về quy mô, diện tích, doanh thu. Bên cạnh đó, chính sách cần bảo đảm kết hợp giữa dịch vụ bên trong HTX và dịch vụ bên ngoài xã hội, kết hợp giữa thành viên và ngoài thành viên để bảo đảm sở hữu tập thể”, Chủ tịch Liên minh HTX Việt Nam Nguyễn Ngọc Bảo đề nghị.

Chủ tịch Liên minh HTX Việt Nam cũng cho rằng từ kinh nghiệm thế giới cho thấy, phát triển HTX là tất yếu khách quan, chỉ có liên kết mới hạn chế những khó khăn của sản xuất nhỏ lẻ, mới thúc đẩy được tam nông. Chính vì vậy, cần coi phát triển HTX là giải pháp đột phá trong 10 năm tới, vì HTX không chỉ đóng góp về kinh tế mà còn đóng góp vào chính trị, xã hội, trong khi HTX là nơi tập trung tài sản thấp nên càng cần sự hỗ trợ từ chính sách như: bỏ thuế thu nhập cá nhân ở khu vực HTX, tăng hỗ trợ cho vay vốn, có gói hỗ trợ riêng về hạ tầng cho HTX công nghệ cao…

Đồng tình, TS Nguyễn Văn Tiến, Vụ trưởng Vụ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (Ban Kinh tế Trung ương) cho rằng cần hoàn thiện các thể chế chính sách phát triển KTTT, HTX dựa trên cơ chế thị trường, gắn kết chặt chẽ với quá trình cơ cấu lại nông nghiệp theo hướng nông nghiệp sinh thái, hiện đại. Đi cùng với đó cần các định phát triển HTX là giải pháp cơ bản để tổ chức lại sản xuất ngành nông nghiệp, liên kết, hỗ trợ hộ nông dân sản xuất kinh doanh hiệu quả, nâng cao năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam.

Huyền Trang

Nguồn Vnbusiness

Thi đua là gieo giống, khen thưởng là thu hoạch

Công tác thi đua khen thưởng có vai trò quan trọng, là động lực thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển, đồng thời khuyến khích các đơn vị trong khối bộ ngành tổng hợp lao động, sản xuất và công tác.

Ngày 26/4, Liên minh HTX Việt Nam – Khối trưởng khối thi đua các bộ, ngành tổng hợp tổ chức Hội nghị triển khai kế hoạch công tác thi đua khen thưởng năm 2022.

Thực hiện lời dạy của Bác Hồ “Thi đua là gieo giống, khen thưởng là thu hoạch” hay “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua, những người thi đua là những người yêu nước”. Trong những năm qua, Liên minh HTX Việt Nam nói riêng và các đơn vị trong khối thi đua các bộ, ngành tổng hợp nói chung luôn quan tâm đến công tác thi đua khen thưởng và coi đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, là động lực để phát triển của khối.

dsc-2342-1650968363-1635-1650968446.png

Công tác thi đua khen thưởng là một trong những nhiệm vụ quan trọng của khối thi đua các bộ ngành tổng hợp.

Chia sẻ tại Hội nghị, Phó Chủ tịch Liên minh HTX Việt Nam Lê Văn Nghị cho biết, với vai trò là trưởng khối thi đua các bộ ngành tổng hợp, Liên minh HTX Việt Nam luôn tiếp thu, lắng nghe các ý kiến của các bộ ngành trong khối để chính thức ban hành quy chế, kế hoạch công tác thi đua khen thưởng của khối năm 2022. Nhiệm vụ trọng tâm của công tác thi đua khen thưởng năm 2022 sẽ tập trung vào một số trọng tâm:

Một là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức về phong trào thi đua yêu nước; tập trung tuyên truyền, quán triệt Chỉ thị số 34-CT/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới công tác thi đua khen thưởng, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi đua khen thưởng và các văn bản hướng dẫn thi hành; Chỉ thị 07/ CT-TTg ngày 19/3/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh phòng chống tiêu cực trong quản lý công chức, viên chức và thi đua khen thưởng. Thực hiện tốt công tác tuyên truyền kỷ niệm các ngày lễ lớn, tiếp tục triển khai thực hiện Nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lần XIII với nhiều hình thức tuyên truyền. Tăng cường giới thiệu các gương tiên tiến điển hình.

Hai là, thi đua hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tham mưu, tổng hợp, phục vụ và quản lý nhà nước thuộc lĩnh vực được giao góp phần hoàn thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của đất nước và 5 năm giai đoạn 2021-2026 gắn với việc tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm việc theo phong cách Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Triển khai các hoạt động cụ thể, thiết thực hưởng ứng phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”, “Doanh nghiệp Việt Nam hội nhập và phát triển”, “Cán bộ, công chức, viên chức thi đua thực hiện văn hóa công sở”, “Cả nước đoàn kết, chung sức đồng lòng thi đua phòng chống và chiến thắng dịch Covid-19″…

Phối hợp chặt chẽ với tổ chức Đảng và Đoàn thể chính trị xây dựng, tổ chức cơ quan trong sạch vững mạnh; phát động và tổ chức các đợt thi đua theo chủ đề, chủ điểm phù hợp với các thời điểm kỷ niệm các ngày lễ lớn và nhiệm vụ chính trị của các đơn vị; cụ thể hóa các nội dung, nhiệm vụ thành các tiêu chí thi đua cụ thể, triển khai ký giao ước thi đua.

Ba là, tập trung sửa đổi, bổ sung hoàn thiện các văn bản thực hiện chủ trương của Đảng, Chính sách pháp luật của Nhà nước về thi đua khen thưởng và chế độ công vụ, công chức. Thực hiện đổi mới công tác khen thưởng bảo đảm chính xác, kịp thời, công khai minh bạch, đúng người, có tác động giáo dục, nêu gương, quan tâm đến các tập thể, cá nhân người lao động trực tiếp; phát hiện những điển hình tiên tiến, nhân tố mới thông qua các phong trào thi đua và thực hiện nhiệm vụ để có các hình thức khen thưởng đột xuất, phù hợp, kịp thời.

Bốn là, đẩy mạnh phong trào thi đua trong lĩnh vực xây dựng tổ chức Đảng trong sạch vững mạnh, xây dựng hệ thống chính trị, xây dựng bộ máy tổ chức đơn vị hoạt động hiệu quả. Nâng cao năng lực quản lý nhà nước; thực hành tiết kiệm; đẩy mạnh công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí. Cải cách thủ tục hành chính, tăng cường ứng dụng thông tin nhằm hoạt động chuyên nghiệp, năng động, hiệu lực, hiệu quả.

Năm là, đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền, phát hiện bồi dưỡng và nhân rộng các điển hình tiên tiến, các mô hình mới, nhân tố mới.

Sáu là, tổ chức các hoạt động của khối thi đua các bộ, ngành tổng hợp thiết thực chào mừng ngày kỷ niệm lớn năm 2022.

Liên minh HTX Việt Nam là một trong những thành viên của khối thi đua các bộ ngành tổng hợp, đại diện cho khu vực KTTT, HTX cả nước. KTTT, HTX đang là một trong những thành phần kinh tế quan trọng trong thúc đẩy kinh tế cả nước phát triển.

Sau quá trình hình thành và đổi mới, đến hết năm 2021, cả nước đã có 27.342 HTX, 103 liên hiệp HTX. Đến nay, đã có nhiều HTX rất mạnh, hoạt động hiệu quả như: Liên hiệp HTX thương mại TP HCM (Sài Gòn Coop), HTX thanh long Tầm Vu…

Nhìn ra thế giới, nhiều HTX xuyên quốc gia có vai trò quan trọng trong nền kinh tế như: HTX sữa cô gái Hà Lan, Liên hiệp HTX Hàn Quốc… “Điều này cho thấy phong trào HTX thế giới đã phát triển từ rất lâu và đang ngày càng lớn mạnh. Chính vì vậy, phát triển HTX ở Việt Nam là hướng tất yếu, phù hợp với xu hướng của thế giới”, Phó Chủ tịch Liên minh HTX Việt Nam Lê Văn Nghị đánh giá.

Để tạo điều kiện cho khu vực KTTT, HTX phát triển, Đảng và Nhà nước đang xem xét ban hành Nghị quyết mới về KTTT, HTX thay cho Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX và sửa đổi bổ sung một số điều tại Luật HTX năm 2012 nhằm mở rộng khái niệm, phạm vi, đối tượng của KTTT, HTX cũng như tạo hành lang pháp lý cho HTX phát triển.

Theo Phó Chủ tịch Lê Văn Nghị, Nghị quyết mới về KTTT, HTX và Luật HTX năm 2012 sau khi sửa đổi bổ sung sẽ tạo đột phá và đi sát hơn với khu vực KTTT, HTX, giúp khu vực này phát triển đúng theo quy luật thị trường. HTX càng có quy mô lớn thì hoạt động càng hiệu quả và càng có quyền quyết định giá cả, cung cầu thị trường.

Huyền Trang

Nguồn: VNbusiness

Đẩy mạnh phong trào thi đua trong lĩnh vực xây dựng tổ chức Đảng trong sạch, vững mạnh

Ngày 26/4, tại trụ sở Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, đồng chí Lê Văn Nghị, Phó Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam chủ trì Hội nghị triển khai kế hoạch công tác thi đua, khen thưởng năm 2022 của Khối thi đua các bộ, ngành tổng hợp.
Tham dự hội nghị có đại diện văn phòng Chủ tịch nước, văn phòng Chính phủ, văn phòng Quốc hội, Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước, Ủy ban dân tộc.
Căn cứ Báo cáo tổng kết công tác thi đua, khen thưởng năm 2021, phương hướng nhiệm vụ năm 2022 của Khối thi đua các bộ, ngành tổng hợp; sau khi thống nhất với các thành viên Khối thi đua các bộ, ngành tổng hợp, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam – Khối trưởng Khối thi đua các bộ, ngành tổng hợp ban hành Kế hoạch tổ chức phong trào thi đua, khen thưởng năm 2022 của Khối thi đua các bộ, ngành tổng hợp, với chủ đề: “Chủ động, sáng tạo, thích ứng an toàn, thi đua hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ”.
Nhằm Phối hợp tổ chức phong trào thi đua của Khối góp phần nâng cao chất lượng, hoàn thành nhiệm vụ năm 2022 của từng thành viên, đóng góp tích cực vào việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội năm 2022 và kế hoạch 05 năm (2021 – 2026) của đất nước và thiết thực kỷ niệm các ngày lễ lớn trong năm 2022 và Phối hợp kiểm tra, khảo sát, trao đổi kinh nghiệm, tổ chức các hoạt động chung, phát hiện cách làm hay, những nhân tố điển hình để nhân rộng trong Khối thi đua… góp phần thắt chặt mối quan hệ đoàn kết, hỗ trợ, giúp đỡ giữa các thành viên trong Khối hoàn thành nhiệm vụ năm 2022.
 Với nhiệm vụ đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức về phong trào thi đua yêu nước; tập trung tuyên truyền, quán triệt Chỉ thị số 34-CT/TW ngày 7/4/2014 của Bộ Chính trị “về tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen thưởng”, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi đua, khen thưởng và các văn bản hướng dẫn thi hành; Chỉ thị số 07/CT-TTg ngày 19/3/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh phòng, chống tiêu cực trong quản lý công chức, viên chức và thi đua, khen thưởng…; Thi đua hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tham mưu, tổng hợp, phục vụ và quản lý nhà nước thuộc lĩnh vực được giao góp phần hoàn thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội của đất nước năm 2022 và 05 năm giai đoạn 2021 – 2026 gắn với việc tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; Tập trung sửa đổi, bổ sung hoàn thiện các văn bản thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về thi đua khen thưởng và chế độ công vụ, công chức; Đẩy mạnh phong trào thi đua trong lĩnh vực xây dựng tổ chức Đảng trong sạch, vững mạnh, xây dựng hệ thống chính trị, xây dựng bộ máy tổ chức đơn vị hoạt động hiệu quả; Đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền, phát hiện, bồi dưỡng và nhân rộng các điển hình tiên tiến, các mô hình mới, nhân tố mới; Tổ chức các hoạt động của Khối thi đua các bộ, ngành tổng hợp thiết thực chào mừng các ngày kỷ niệm lớn năm 2022. Trên cơ sở dự thảo, các thành viên trong khối thi đua đã đóng góp, bổ xung các ý kiến phù hợp hơn cho kế hoạch.
Đồng chí Lê Văn Nghị cảm ơn các thành viên trong khối đã bầu Liên minh Hợp tác xã Việt Nam làm khối trưởng khối thi đua Các bộ, ngành tổng hợp. đồng thời Liên minh Hợp tác xã Việt Nam sẽ tiếp thu các ý kiến bổ xung của thành viên về giải thể thao giữa các đơn vị trong khối, tập huấn, tham quan một số lưu trữ tài liệu quốc gia của bộ Nội vụ nhằm hoàn thiện phong trào thi đua, khen thưởng năm 2022 của Khối thi đua các bộ, ngành tổng hợp.
Quang Trung
Nguồn VCA

Tiếp tục tư vấn hỗ trợ, cung ứng dịch vụ, nhất là tiêu thụ sản phẩm cho thành viên

Chiều ngày 13/4, cơ quan Liên minh Hợp tác xã Việt Nam tổ chức “Hội nghị đánh giá công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Thường trực tháng 3/2022 và triển khai nhiệm vụ tháng 4/2022”. Hội nghị được tổ chức dưới hình thức trực tiếp và trực tuyến. Đồng chí Nguyễn Ngọc Bảo, Bí thư Đảng đoàn, Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam chủ trì Hội nghị.

Trên cơ sở các nhiệm vụ tại Nghị quyết số 09/NQ-LMHTXVN ngày 13/01/2022 của Ban Chấp hành Liên minh HTX Việt Nam, Thông báo số 107/TB-LMHTXVN ngày 8/3/2022; tháng 03/2022 và nửa đầu tháng 4/2022, căn cứ phân công nhiệm vụ của Chủ tịch, các Phó Chủ tịch theo Quyết định số 52/QĐ-LMHTXVN ngày 22/02/2022 và các chỉ đạo trực tiếp của Đồng chí Chủ tịch về công việc ở một số ban, đơn vị khác liên quan. Thường trực Liên minh HTX Việt Nam đã chỉ đạo các ban, đơn vị trực thuộc triển khai hoàn thành 111/151 đầu việc và hoàn thành cơ bản các nhiệm vụ quan trọng như: Phối hợp chặt chẽ với Văn phòng Chính phủ trong việc tham mưu Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các nhiệm vụ trọng tâm của Liên minh HTX Việt Nam trong năm 2022 và thời gian tiếp theo; Tập trung tham gia ý kiến Đề án tổng kết 20 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể; dự thảo Nghị quyết mới; Chỉ đạo triển khai các hoạt động hỗ trợ xã Định Hóa, Thái Nguyên đạt chuẩn nông thôn mới năm 2023 theo chỉ đạo của Chủ tịch Quốc hội; Tổ chức thành công Lễ ký kết Chương trình phối hợp giữa Ban Tuyên Giáo Trung ương và Liên minh HTX Việt Nam về tuyên truyền phát triển kinh tế tập thể, HTX giai đoạn 2021-2025; Tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ Liên minh HTX Việt Nam lần thứ 5, nhiệm kỳ 2020-2025 để đánh giá tình hình và kết quả thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ và giải pháp trong quý I/2022; nhiệm vụ công tác quý II/2022;…

Về chức năng nhiệm vụ được giao, cơ quan Liên minh Hợp tác xã Việt Nam vẫn tiếp tục duy trì và thực hiện tốt các công tác: Tích cực phối hợp với các bộ, ngành cơ quan, tổ chức tham gia xây dựng và thực hiện có hiệu quả chiến lược, kế hoạch, dự án, đề án liên quan đến phát triển KTTT, HTX; Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, thông tin gắn với phong trào thi đua đẩy mạnh phát triển KTTT, HTX; Tư vấn hỗ trợ, cung ứng dịch vụ nhất là tiêu thụ sản phẩm cho thành viên; Tiếp tục cơ cấu tổ chức bộ máy, hoàn thiện quy định nội bộ của cơ quan Liên minh Hợp tác xã Việt Nam;…

Đồng chí Nguyễn Ngọc Bảo, Bí thư Đảng đoàn, Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam chủ trì Hội nghị

Trong tháng 4/2022, cơ quan Liên minh Hợp tác xã Việt Nam sẽ tập trung triển khai một số nhiệm vụ trọng tâm như: Hoàn thiện các tài liệu trình Hội nghị Ban Thường vụ Liên minh HTX Việt Nam lần thứ 5, khóa VI, nhiệm kỳ 2020-2025 để ký ban hành; trình xin ý kiến Hội nghị Ban Chấp hành Liên minh HTX lần thứ 5; Triển khai các công việc liên quan đến sửa đổi, bổ sung Luật HTX năm 2022; Triển khai Nghị quyết số 61/NQ – LMHTXVN ngày 24/02/2022 của Ban Chấp hành về việc thực hiện khảo sát, đánh giá mức độ hài lòng của HTX đối với cấp ủy, chính quyền địa phương;…

Cũng trong tháng 3, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam sẽ tổ chức một số sự kiện quan trọng: Hội nghị xúc tiến thương mại và đầu tư cho HTX và THT chăn nuôi gia cầm; Hội nghị kết nối cung cầu, xúc tiến đầu tư và thương mại cho các HTX, liên hiệp HTX dược liệu trên địa bàn cả nước”; Diễn đàn Kinh tế tập thể, HTX, Liên minh HTX khu vực miền Trung – Tây Nguyên, lần thứ nhất – 2022.

Kết luận Hội nghị, đồng chí Chủ tịch Nguyễn Ngọc Bảo ghi nhận và biểu dương những nỗ lực, cố gắng của lãnh đạo, cán bộ trong cơ quan tháng 3 vừa qua. Chủ tịch Nguyễn Ngọc Bảo đề nghị lãnh đạo, cán bộ cơ quan tiếp tục cố gắng triển khai thực hiện tốt các nhiệm vụ trọng tâm đã đề ra trong tháng 4 của cơ quan Liên minh Hợp tác xã Việt Nam. Với từng kế hoạch, từng nhiệm vụ công việc, Chủ tịch Nguyễn Ngọc Bảo có kết luận và chỉ đạo tới từng Ban, đơn vị.

Quang Trung – Lê Huy

Nguồn VCA

Phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã là tất yếu khách quan, có ý nghĩa chiến lược và lâu dài

(Ảnh TTXVN)

Quá trình hình thành và phát triển hợp tác xã (HTX) trên thế giới đã trải qua hơn 200 năm. Theo báo cáo năm 2021 của Liên đoàn HTX quốc tế (ICA), HTX liên tục phát triển ở các nước phát triển và đang phát triển; đến nay có hơn 3 triệu HTX, đóng góp hơn 10% GDP và bảo đảm đời sống cho hơn một nửa dân số thế giới; chẳng hạn: Cộng hòa Liên bang Đức, hầu hết nông dân là thành viên HTX, sản xuất từ 30% – 90% sản lượng lương thực, thực phẩm, chiếm 35% thị phần tín dụng nông thôn; Hà Lan có 25,5 triệu thành viên HTX, gấp 1,5 lần dân số, đóng góp 18% GDP; Nhật Bản, HTX có 65 triệu thành viên, gần 50% hộ gia đình ở Nhật Bản sử dụng dịch vụ của HTX; Trung Quốc có 30.287 HTX, thu hút hơn 80% hộ nông dân tham gia thành viên; Thái Lan có 6.626 HTX nông nghiệp và phi nông nghiệp, đóng góp 13% GDP; Hoa Kỳ có 50.000 HTX, chiếm 25% thị phần nông sản chế biến và tiêu thụ,…

Tại cuộc họp Đại hội đồng Liên hợp quốc (năm 2003) và Thông điệp gửi phong trào HTX quốc tế, Tổng Thư ký Liên hợp quốc đánh giá “HTX là một trào lưu có tổ chức lớn nhất của xã hội văn minh, đóng góp quan trọng trong việc đáp ứng nguyện vọng, nhu cầu của con người trong những nỗ lực phát triển kinh tế cân bằng sâu rộng ở các quốc gia nói riêng và thế giới nói chung”, “HTX là đối tác chính trong hệ thống của Liên hợp quốc, HTX là mô hình về tự trợ giúp và đoàn kết, đóng góp của HTX rất đặc biệt và vô giá”.

Thực tiễn phát triển HTX trên thế giới, kể cả hơn hai năm có đại dịch Covid-19 cho thấy một số vấn đề áp dụng vào thực tiễn Việt Nam: Hầu hết hộ nông dân tham gia thành viên HTX; các HTX đều thực hiện đúng bản chất, giá trị và nguyên tắc có tính phổ biến trong hoạt động và quản trị, đó là tự nguyện, tự lực, tự chịu trách nhiệm, dân chủ, bình đẳng và đoàn kết, mỗi thành viên là một phiếu bầu, quan tâm đến cộng đồng; vai trò của HTX là chủ thể quan trọng đóng góp cho mục tiêu phát triển bền vững, xóa đói, giảm nghèo, bình đẳng giới, tạo việc làm, phát triển kinh tế bao trùm, chuyển đổi kinh tế và lao động phi chính thức sang chính thức, thích ứng biến đổi khí hậu, chuyển đổi số, xây dựng xã hội học tập; Chính phủ các nước thường xuyên hoàn thiện khung khổ pháp luật và áp dụng chính sách hỗ trợ HTX phát triển, cùng với củng cố Liên minh HTX quốc gia để thực hiện chức năng đại diện, bảo vệ, chăm lo HTX thành viên.

Ở nước ta, kinh tế tập thể mà nòng cốt là HTX với nhiều hình thức hợp tác đa dạng (HTX, tổ hợp tác, liên hiệp HTX…) dựa trên sở hữu của các thành viên và sở hữu tập thể, liên kết và hợp tác rộng rãi những người lao động, hộ sản xuất, kinh doanh, doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đầu tiên đưa lý luận phát triển HTX vào nước ta và thường xuyên quan tâm chỉ đạo phát triển kinh tế tập thể, HTX; trong Thư gửi điền chủ nông gia Việt Nam ngày 11/4/1946, Người viết: “Nông dân ta giàu thì nước ta giàu. Nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh. Nông dân muốn giàu, nông nghiệp muốn thịnh, thì cần phải có hợp tác xã…

Nói tóm lại, hợp tác xã là hợp vốn, hợp sức với nhau. Vốn nhiều, sức mạnh, thì khó nhọc ít mà ích lợi nhiều”; ngày 11/4/1964, trong thư gửi Đại hội HTX và đội sản xuất nông nghiệp tiên tiến miền núi và trung du, Người dặn dò “Hợp tác xã phải được củng cố, tức là làm cho xã viên có tinh thần làm chủ, làm cho ban quản trị được vững vàng và có năng lực, phải thực hành dân chủ, chống tham ô, lãng phí, quan liêu, phải đoàn kết chặt chẽ trong hợp tác xã, làm tốt công tác cải tiến quản lý, cải tiến kỹ thuật và không ngừng nâng cao trình độ chính trị và văn hóa cho cán bộ và xã viên”.

Kinh tế tập thể, HTX đã hình thành và phát triển 76 năm, đóng góp quan trọng sức người, sức của cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của đất nước ta: Thời kỳ 1955-1986, HTX phát triển nhanh về số lượng ở cả địa bàn nông thôn và thành thị; thời kỳ 1986-2002, khu vực nông nghiệp, nông thôn thực hiện khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động và cơ chế quản lý HTX chưa được đổi mới, số lượng và hiệu quả kinh tế HTX giảm thấp do phải củng cố và tổ chức lại phù hợp; thời kỳ 2002-2021, kinh tế tập thể, HTX có bước phát triển về số lượng, chất lượng và hiệu quả hoạt động. Trải qua các thời kỳ phát triển, bản chất, giá trị và các nguyên tắc hoạt động, vai trò của kinh tế tập thể, HTX phù hợp với chủ trương của Đảng về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta và quy định của Hiến pháp “Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo… Các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân.

Phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã là tất yếu khách quan, có ý nghĩa chiến lược và lâu dài -0Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc thăm Hợp tác xã Mỹ Tịnh An, huyện Chợ Gạo,
tỉnh Tiền Giang. (Ảnh TTXVN)

Các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật”. Theo số liệu thống kê, nước ta hiện nay có 17,3 triệu hộ ở địa bàn nông thôn, trong đó 9 triệu hộ nông dân có diện tích canh tác bình quân ở mức thấp (đồng bằng sông Cửu Long 0,71 ha, đồng bằng sông Hồng 0,22 ha, duyên hải miền trung 0,01 ha, bình quân 2,5 thửa ruộng/hộ), vốn và tài sản còn hạn chế, cho nên hộ nông dân cần phải liên kết, hợp tác tổ chức sản xuất, kinh doanh theo mô hình kinh tế tập thể, HTX; kể cả hàng triệu hộ cá thể khác ở địa bàn nông thôn và thành thị cũng cần phải liên kết, hợp tác để sản xuất, kinh doanh thì mới có hiệu quả bền vững. Căn cứ đường lối của Đảng, Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước, thực tiễn phát triển kinh tế tập thể, HTX ở Việt Nam và các nước khác, có thể khẳng định phát triển kinh tế tập thể, HTX là tất yếu khách quan, có ý nghĩa chiến lược và lâu dài trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Qua 20 năm (2002-2021) thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể, chúng ta đạt được kết quả: Kinh tế tập thể, HTX có bước phát triển cả số lượng và chất lượng, khắc phục tình trạng yếu kém kéo dài (cuối năm 2021, cả nước có 26.823 HTX, 120.319 tổ hợp tác và 106 liên hiệp HTX, thu hút 33% tổng số hộ gia đình ở địa bàn nông thôn tham gia, gần 60% HTX hoạt động có hiệu quả); bộ phận lớn HTX cung ứng dịch vụ đầu vào, đầu ra cho thành viên, giảm chi phí sản xuất và ổn định hợp đồng tiêu thụ sản phẩm; kinh tế tập thể, HTX đã đóng góp tăng trưởng kinh tế bền vững, kiềm chế lạm phát, tăng kim ngạch xuất khẩu, đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với tái cơ cấu nền kinh tế, nhất là kinh tế nông nghiệp, đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm, thích ứng biến đổi khí hậu, hướng đến phát triển xanh, kinh tế tuần hoàn.

Có nhiều nguyên nhân và kinh nghiệm được rút ra, trong đó nhận thức của hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân về bản chất, cơ chế và lợi ích của HTX mang lại cho người dân và nền kinh tế được nâng lên, sự chủ động và tích cực của cấp ủy, chính quyền địa phương trong triển khai Nghị quyết phù hợp với thực tiễn như Tiền Giang, Đồng Tháp, An Giang, Đồng Nai, thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Ninh Bình, Sơn La…; các địa phương đều có nhiều mô hình HTX hoạt động hiệu quả với vai trò tư vấn và hỗ trợ nòng cốt của hệ thống Liên minh HTX Việt Nam, tác động lan tỏa như HTX Sinh Dược-Ninh Bình, HTX Mỹ Đông-Đồng Tháp, HTX Mỹ Tịnh An-Tiền Giang, HTX Xuyên Việt-Hải Dương, HTX Ái Nghĩa-Quảng Nam…

Tuy vậy, kinh tế tập thể, HTX ở nước ta phát triển chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra, đang có những tồn tại, bất cập, hạn chế cần được quan tâm, giải quyết: Tỷ lệ lớn hộ cá thể ở địa bàn nông thôn chưa tham gia HTX, tổ hợp tác; một bộ phận lớn HTX có quy mô nhỏ, vốn ít, năng lực quản trị hạn chế, liên kết thành viên còn thấp, chưa có uy tín và thương hiệu trên thị trường; đóng góp cho phát triển nền kinh tế-xã hội còn hạn chế; đang có một số “điểm nghẽn” trong nhận thức và hiểu biết chưa đúng về cơ chế hoạt động và vai trò của HTX, pháp luật và chính sách hỗ trợ cho kinh tế tập thể, năng lực quản trị của HTX còn yếu kém. Một số cấp ủy, chính quyền địa phương, bộ ngành chưa thực sự quan tâm đến kinh tế hợp tác và hợp tác xã.

Phát triển kinh tế tập thể, HTX trong thời kỳ 2021-2030 và tầm nhìn 2045 phải phù hợp với đường lối, chủ trương, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu của Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, khắc phục các “điểm nghẽn” đang kìm hãm sự phát triển trong bối cảnh và điều kiện mới.

Về quan điểm: Phát triển kinh tế tập thể, HTX là tất yếu khách quan, có ý nghĩa chiến lược, lâu dài, là chủ trương xuyên suốt, nhất quán của Đảng và Nhà nước, là thành phần kinh tế quan trọng, phù hợp với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng với kinh tế nhà nước giữ vai trò nền tảng trong nền kinh tế-xã hội ở nước ta, là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với các tầng lớp nhân dân; tiếp tục phát triển kinh tế tập thể, HTX trong các ngành, lĩnh vực, địa bàn nông thôn và thành thị, theo phương châm tích cực và vững chắc, xuất phát từ thực tiễn, tránh duy ý chí, nóng vội, kinh tế tập thể, HTX giữ vai trò chủ đạo trong phát triển kinh tế nông nghiệp; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, Nhà nước tiếp tục hoàn thiện khung khổ pháp luật và chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể, HTX, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức đoàn thể, trong đó có vai trò nòng cốt của hệ thống Liên minh HTX Việt Nam.

Về mục tiêu: Kinh tế tập thể, HTX phát triển nhanh, bền vững, là phương thức tổ chức sản xuất, kinh doanh quan trọng, đóng vai trò nền tảng trong nền kinh tế quốc dân, nâng cao hiệu quả hoạt động của HTX, liên hiệp HTX, tổ hợp tác, mang lại lợi ích kinh tế và phúc lợi xã hội ngày càng cao cho thành viên, thu hút hầu hết hộ cá thể ở địa bàn nông thôn và thành phần kinh tế khác tham gia kinh tế tập thể HTX.

Về nhiệm vụ và giải pháp, cần phải thực hiện đồng bộ và kịp thời nhưng tập trung vào một số giải pháp có tính đột phá:

Một là, đẩy mạnh tuyên truyền, quán triệt, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cơ quan, tổ chức và nhân dân về bản chất, cơ chế hoạt động, vai trò của kinh tế tập thể, HTX trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; có quy định yêu cầu các cơ sở đào tạo trong nền kinh tế quốc dân và trường bồi dưỡng cán bộ đào tạo kiến thức về kinh tế tập thể, HTX.

Hai là, hoàn thiện thể chế, tập trung sửa đổi các quy định bất cập của Luật HTX, quy định cơ chế hoạt động của HTX là pháp nhân kinh tế tương tự như doanh nghiệp, đảm bảo dễ hiểu, dễ áp dụng như đơn giản thủ tục thành lập và hoạt động, giảm bộ máy quản trị, quy định hợp lý tỷ lệ vốn góp và sử dụng dịch vụ nội bộ phù hợp đối với từng loại hình HTX nông nghiệp và phi nông nghiệp để tăng khả năng tự chủ trong huy động nguồn lực; quy định cơ chế quản trị phù hợp đối với từng loại hình HTX nông nghiệp và phi nông nghiệp, HTX sản xuất, kinh doanh phân tán hay tập trung, quy định cụ thể các chính sách hỗ trợ cùng với nguyên tắc bố trí nguồn lực từ ngân sách nhà nước; đổi mới quản lý nhà nước đối với kinh tế tập thể, HTX theo hướng các bộ, ngành tập trung vào việc ban hành cơ chế, chính sách, tạo môi trường phát triển cho kinh tế hợp tác và hợp tác xã.

Ba là, Nhà nước ban hành chương trình thúc đẩy phát triển kinh tế tập thể, HTX bằng các chính sách cụ thể và bố trí nguồn lực thực hiện để dẫn dắt, huy động các nguồn lực khác, tập trung đào tạo, huy động nhân lực chất lượng cao cho HTX (đào tạo nghề quản trị HTX và tay nghề sản xuất, kinh doanh cho thành viên và người lao động gắn với sản phẩm của HTX, thu hút lao động trẻ được đào tạo chuyên môn, khởi nghiệp theo mô hình HTX); ứng dụng công nghệ cao và chuyển đổi số, tiếp cận vốn tín dụng, xây dựng thương hiệu, chính sách thuế (miễn thuế thu nhập doanh nghiệp cho HTX trong 3-5 năm, áp dụng phù hợp đối với từng loại hình HTX; không quy định thu thuế thu nhập cá nhân đối với phần lợi tức được chia từ vốn góp của thành viên HTX để khuyến khích hộ cá thể tham gia HTX), chính sách tín dụng (Ban hành quy định tín dụng nội bộ HTX, cho phép Quỹ tín dụng nhân dân mở rộng cho vay ngoài thành viên, nhất là ở địa bàn nông thôn; bố trí gói tín dụng cho HTX vay đầu tư cơ sở hạ tầng; quy định mức cho vay không có tài sản bảo đảm đối với HTX, thành viên HTX, phù hợp với mặt bằng chi phí sản xuất hiện nay; cấp bổ sung vốn cho các Quỹ Hỗ trợ phát triển HTX Trung ương và địa phương).

Bốn là, thực hiện đổi mới, củng cố tổ chức, nâng cao năng lực và hiệu quả của hệ thống Liên minh HTX Việt Nam để phát huy có hiệu quả vai trò nòng cốt, trách nhiệm chính trong xây dựng, thúc đẩy phát triển kinh tế tập thể, HTX, đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các tổ chức kinh tế hợp tác với thành viên.

Năm là, cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc cần có chương trình kế hoạch chỉ đạo, lãnh đạo, tạo điều kiện để kinh tế hợp tác, HTX phát triển đúng hướng, hiệu quả và bền vững.

Chúng ta tin tưởng rằng Nghị quyết Bộ Chính trị, Nghị quyết Trung ương lần này và Luật HTX (bổ sung, sửa đổi) sẽ là những quan điểm, giải pháp tốt và đồng bộ để kinh tế hợp tác và hợp tác xã có điều kiện phát triển nhanh  và bền vững trong thời gian tới.

NGUYỄN XUÂN PHÚCỦy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Nguồn: VCA

Hội nghị Ban Thường vụ Liên minh Hợp tác xã Việt Nam lần thứ 5, khóa VI nhiệm kỳ 2020 – 2025

Thực hiện Điều lệ Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, hôm nay (7/4) tại trụ sở Liên minh Hợp tác xã Việt Nam đã diễn ra Hội nghị Ban Thường vụ Liên minh Hợp tác xã Việt Nam lần thứ 5, khóa VI nhiệm kỳ 2020 – 2025. Đồng chí Nguyễn Ngọc Bảo, Bí thư Đảng đoàn, Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam chủ trì Hội nghị.

Đồng chí Nguyễn Ngọc Bảo, Bí thư Đảng đoàn, Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam chủ trì Hội nghị.

Cùng tham dự Hội nghị có các đồng chí Thường trực Liên minh Hợp tác xã Việt Nam; Các đồng chí là Ủy viên Ban Thường vụ Liên minh Hợp tác xã Việt Nam khóa VI nhiệm kỳ 2020 – 2025.

Phát biểu khai mạc Hội nghị, đồng chí Nguyễn Ngọc Bảo, Bí thư Đảng đoàn, Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam cho biết Hội nghị Ban Thường vụ Liên minh Hợp tác xã Việt Nam lần thứ 5, khóa VI sẽ tập trung đánh giá tình hình thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế tập thể, HTX và hoạt động của hệ thống Liên minh HTX Việt Nam Quý I/2022, triển khai công tác Quý II/2022 và thời gian tiếp theo.

Cùng với đó Hội nghị cũng tập trung thảo luận, cho ý kiến về các nội dung:  Báo cáo việc triển khai và xin ý kiến một số nội dung chính đề xuất xây dựng Luật HTX (sửa đổi); Báo cáo triển khai hỗ trợ Đề án xây dựng huyện Định Hóa, Thái Nguyên đạt chuẩn nông thôn mới vào năm 2023; Kế hoạch triển khai chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Thông báo số 1915/TB – số 1915/VPCP-NN ngày 29/3/2022 của Văn phòng Chính phủ về thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của Liên minh HTX Việt Nam năm 2022; Kế hoạch triển khai và đề cương chi tiết xây dựng Đề án thành lập Liên đoàn HTX lúa gạo Đồng bằng sông Cửu Long; Dự thảo Quy chế chế độ báo cáo và công tác thống kê tình hình phát triển kinh tế tập thể, HTX; Xây dựng Bộ Nhận diện thương hiệu của hệ thống Liên minh HTX Việt Nam; Kế hoạch tổ chức Lễ công bố “Chỉ số hài lòng cấp tỉnh của HTX” năm 2021.

Quang cảnh Hội nghị Ban Thường vụ Liên minh Hợp tác xã Việt Nam lần thứ 5, khóa VI nhiệm kỳ 2020 – 2025

Theo báo cáo của Liên minh Hợp tác xã Việt Nam về tình hình phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã; hoạt động của hệ thống Liên minh Hợp tác xã Việt Nam quý I, tính đến ngày 31/3/2022, cả nước có 27.650 HTX, tăng 325 HTX so với thời điểm 31/12/2021; trong đó: 18.294 HTX nông nghiệp, 8.175 HTX phi nông nghiệp, 1.181 Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND). Vùng có số lượng HTX nhiều nhất cả nước là Đồng bằng Sông Hồng (6.979 HTX, chiếm 25,24%), Đông Bắc (4.926 HTX, chiếm 17,82%), ít nhất là khu vực duyên hải miền Trung (1.550 HTX, chiếm 5,61%).

Quý I/2022, 55/63 tỉnh trên cả nước có HTX được thành lập mới; tổng số thành lập mới 383 HTX (đạt 25,53% chỉ tiêu kế hoạch năm 2022); trong đó lĩnh vực nông nghiệp là 251 HTX (chiếm 65,54%), phi nông nghiệp là 132 HTX (chiếm 34,46%).

Các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Liên minh Hợp tác xã Việt Nam tham dự Hội nghị

Nhìn chung trong quý I/2022, HTX (nông nghiệp và phi nông nghiệp) trong cả nước, tại tất cả các vùng, miền cơ bản thích ứng với tình hình mới, thành lập mới đạt kế hoạch, mục tiêu đề ra; hoạt động sản xuất kinh doanh dần ổn định; chủ động xây dựng kế hoạch phương án sản xuất kinh doanh ngắn hạn, dài hạn phù hợp, linh hoạt trước điều kiện thực tiễn. Khu vực HTX đã góp phần quan trọng trong nâng cao các dịch vụ cung ứng nguyên vật liệu đầu vào và tiêu thụ sản phẩm đầu ra cho thành viên và người dân trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 kéo dài, góp phần giải quyết việc làm, ổn định đời sống và phát triển kinh tế xã hội chung và sự thành công trong cuộc chiến chống dịch Covid-19 thời gian qua.

Các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Liên minh Hợp tác xã Việt Nam tham dự Hội nghị

Trong quý II/ 2022, hệ thống Liên minh Hợp tác xã Việt Nam tập trung triển khai một số nhiệm vụ trọng tâm như: Tổ chức thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, địa phương về phát triển kinh tế tập thể, HTX; Tiếp tục thực hiện có hiệu quả mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp phát triển kinh tế tập thể, HTX và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống Liên minh HTX Việt Nam theo Nghị quyết 09/NQ-LMHTXVN ngày 13/01/2022 của Ban Chấp hành Liên minh HTX Việt Nam; Tổ chức xây dựng và hoàn thiện các Đề án trình Ban Bí Thư, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; Đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân và hệ thống chính trị về phát triển KTTT, HTX; Đẩy mạnh phát huy sáng kiến theo cụm thi đua, theo vùng; tăng cường trao đổi, liên kết, hợp tác giữa các tỉnh, thành phố trong khu vực; tổ chức thành công Diễn đàn kinh tế tập thể, HTX khu vực miền Trung – Tây Nguyên, lần thứ nhất- năm 2022; Phối hợp với Văn phòng Chủ tịch nước tổ chức gặp mặt của Chủ tịch Nước CHXHCN Việt Nam với các điển hình tiên tiến của khu vực kinh tế tập thể năm 2022;…

Lê Huy

Nguồn: VCA

Liên minh Hợp tác xã Việt Nam làm việc với Bộ Nội vụ

Chiều 17/3 tại trụ sở Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, đồng chí Nguyễn Ngọc Bảo, Bí thư Đảng đoàn, Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam đã có buổi làm việc với Đoàn công tác của Bộ Nội vụ do Thứ trưởng Vũ Chiến Thắng làm Trưởng đoàn.

Quang cảnh buổi làm việc

Cùng tham dự buổi làm việc có đồng chí Nguyễn Mạnh Cường, Bí thư Đảng ủy, Phó Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam; đồng chí Thang Thị Hạnh, Vụ trưởng Vụ Tổ chức phi chính phủ; cùng một số lãnh đạo các Ban, Vụ trực thuộc hai cơ quan.

Phát biểu tại buổi làm việc, đồng chí Nguyễn Ngọc Bảo, Bí thư Đảng đoàn, Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam cho biết thời gian qua, Đảng, Nhà nước đã quan tâm, tạo điều kiện đề khu vực KTTT, HTX tiếp tục phát triển, từng bước khẳng định vị trí, vai trò nền tảng trong nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên việc thể chế hóa chủ trương của Đảng về phát triển KTTT, HTX và hệ thống Liên minh Hợp tác xã Việt Nam còn chưa kịp thời, chưa đồng bộ, chưa theo kịp tình hình thực tế. Việc đánh giá hiệu quả, đóng góp của KTTT trong nền kinh tế cũng chưa đầy đủ dẫn đến nhận thức của một số Bộ, ngành, địa phương về KTTT, HTX còn hạn chế, chưa quan tâm đúng mức đối với hệ thống Liên minh Hợp tác xã Việt Nam.

Đồng chí Nguyễn Ngọc Bảo, Bí thư Đảng đoàn, Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam phát biểu tại buổi làm việc

Trong thời gian tới, để khu vực KTTT, HTX và hệ thống Liên minh Hợp tác xã Việt Nam tiếp tục hoạt động có hiệu quả, hoàn thành tốt các nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước giao, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam nêu một số đề xuất kiến nghị về chức năng nhiệm vụ, vị trí pháp lý, tổ chức bộ máy, chính sách cán bộ,… với mong muốn Bộ Nội vụ hướng dẫn, giải đáp các thắc mắc, cũng như ủng hộ, phối hợp, tạo điều kiện để hệ thống Liên minh Hợp tác xã Việt Nam tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò nòng cốt của mình trong phát triển KTTT, HTX.

Kết luận buổi làm việc, Thứ trưởng Bộ Nội vụ Vũ Chiến Thắng cho rằng KTTT mà nòng cốt là HTX là thành phần kinh tế quan trọng, luôn được Đảng, Nhà nước khuyến khích và phát triển. Thứ trưởng Vũ Chiến Thắng đánh giá cao vị trí, vai trò của hệ thống Liên minh Hợp tác xã Việt Nam trong phát triển KTTT, HTX. Thời gian qua hệ thống Liên minh Hợp tác xã Việt Nam đã thực hiện các nhiệm vụ Đảng và Nhà nước giao rất tích cực, đảm bảo tuân thủ đúng quy định pháp luật và Điều lệ Hội. Đặc biệt là đảm bảo đoàn kết nội bộ; thực hiện tốt công tác thông tin, tuyên truyền, tuân thủ đúng chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước.

Thứ trưởng Bộ Nội vụ Vũ Chiến Thắng phát biểu tại buổi làm việc

Đồng chí Thứ trưởng đề nghị Vụ Tổ chức phi chính phủ tiếp tục tập hợp những khó khăn, vướng mắc của Liên minh Hợp tác xã Việt Nam để tổng hợp, hoàn thiện, trình phê duyệt. Đối với những đề xuất, kiến nghị của Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, đồng chí đề nghị Vụ Tổ chức – Biên chế, Vụ Công chức – Viên chức, Vụ Tiền lương nghiên cứu và có hướng dẫn cụ thể để Liên minh Hợp tác xã Việt Nam thực hiện thống nhất, hiệu quả.

Một số hình ảnh lưu niệm tại buổi làm việc:

Lê Huy

Nguồn VCA

Tạo đà để nông dân chủ động thích ứng chuyển đổi số

Ứng dụng công nghệ số vào sản xuất, phân phối nông sản đang trở thành xu thế tất yếu của ngành Nông nghiệp, trong đó, sự tham gia của nông dân là yếu tố quan trọng, từ khâu tiếp cận khoa học kỹ thuật, quản lý quy trình sản xuất đến tiếp cận thị trường, đưa sản phẩm lên sàn thương mại điện tử. Tại tỉnh Vĩnh Phúc, dù chỉ mới manh nha song những kết quả bước đầu đạt được là minh chứng cho thấy chuyển đổi số đã và đang giúp nông dân Vĩnh Phúc thay đổi tư duy sản xuất, từng bước hướng đến nền nông nghiệp hiện đại.

Điển hình nông dân “sành” công nghệ

Năm 2021, tới thăm nông trại HPfam, Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phúc Hoàng Thị Thúy Lan đã đánh giá cao và cho rằng đây là một trong những mô hình sản xuất nông nghiệp sạch cần được nhân rộng

Bắt nhịp với tiến bộ khoa học công nghệ hiện đại, những năm gần đây, nhiều nông dân thời 4.0 của Vĩnh Phúc đã mạnh dạn thay đổi nhận thức, chuyển từ cách làm theo thói quen sang cách làm theo hướng dẫn của các chuyên gia; chủ động tìm tòi, nâng cao kiến thức, tiếp thu tiến bộ của khoa học kỹ thuật, đổi mới, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm để tiệm cận với nền nông nghiệp thông minh gắn liền với chuyển đổi số.

Điển hình như mô hình trồng rau quả sạch trong nhà kính công nghệ cao của 2 nông dân trẻ Nguyễn Thái Phi và Tạ Văn Hiệp ở xã Văn Tiến, huyện Yên Lạc với tên gọi nông trại HPfam. Được thành lập từ năm 2017, theo hướng ứng dụng công nghệ cao từ số vốn hàng tỷ đồng tích cóp được sau những năm đi xuất khẩu lao động nơi xứ người, 2 chàng trai trẻ đã mạnh dạn đầu tư hệ thống máy móc, thiết bị chăm sóc cây trong nhà kính với đồng hồ cảm biến nhiệt độ, hệ thống phun sương tự động, hệ thống tưới nước nhỏ giọt, hệ thống tưới châm phân với bồn chứa riêng biệt giúp cây trồng tiếp nhận dinh dưỡng đồng đều, sinh trưởng và phát triển tốt hơn gấp nhiều lần cách làm nông nghiệp truyền thống. Sau gần 5 năm, đến nay, nông trại HPfam đã xây dựng được 4 nhà kính với tổng diện tích hơn 3.000 m2, không chỉ trồng các loại rau quả thông thường mà còn trồng các loại trái cây giống mới có năng suất, chất lượng và giá trị kinh tế cao. Trung bình mỗi năm, mô hình cho thu nhập 600 đến 700 triệu đồng.

Theo phân tích của anh Hiệp, làm nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tuy số vốn ban đầu bỏ ra lớn nhưng về lâu dài sẽ tiết kiệm khoản lớn chi phí nhân công, chủ động về chất lượng sản phẩm, đặc biệt với hệ thống tưới nhỏ giọt, cây trồng được “ăn” một lượng nước vừa đủ, không gây lãng phí nước và dù người nông dân không có mặt trực tiếp tại khu vực sản xuất thì việc chăm sóc cây trồng vẫn được thực hiện tốt nhờ hệ thống giám sát được cài đặt trên điện thoại.

Chủ động đổi mới, áp dụng chuyển đổi số vào sản xuất, tiêu thụ sản phẩm thông qua chuỗi cung ứng thịt lợn sạch theo tiêu chuẩn VietGAP cũng là cách mà Công ty TNHH MTV Sản xuất và Thương mại Phát Đạt, xã Cao Minh, thành phố Phúc Yên thực hiện nhiều năm qua để đưa sản phẩm của mình tới gần hơn với người tiêu dùng. Trên diện tích 15.000m2, Công ty đã xây dựng trang trại chăn nuôi được thiết kế và chia từng khu riêng biệt với bốn dãy chuồng nuôi lợn và đầu tư trang thiết bị máy móc hiện đại có hệ thống làm mát hoạt động theo cơ chế tự động, bảo đảm cung ứng nguồn thịt lợn sạch, an toàn cho người tiêu dùng. Đặc biệt, để nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm trên thị trường, Công ty tập trung đổi mới công nghệ theo tiêu chuẩn quốc tế, tổ chức sản xuất theo các chuỗi liên kết từ cung cấp đầu vào cho sản xuất đến giết mổ, sơ chế, chế biến, lưu thông, tiêu thụ sản phẩm, góp phần nâng cao chất lượng, giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm.

Anh Nguyễn Văn Tuấn, Giám đốc Công ty chia sẻ, nếu chăn nuôi theo quy trình truyền thống, các trang trại sẽ phải mất nhiều chi phí thuê nhân công, thức ăn, thuốc men còn khi ứng dụng công nghệ cao, mỗi con lợn, đặc biệt là lợn nái được đánh số, cập nhật theo dõi qua sổ nhật ký điện tử nên lượng thức ăn, sức khỏe của vật nuôi được giám sát chặt chẽ, không hao phí. Đối với lợn thịt, lợn giống thương phẩm đến kỳ xuất bán, thương lái chỉ cần xem qua hệ thống camera, chốt giá, lợn sẽ được đưa ra giết mổ, vận chuyển đến nơi tiêu thụ theo vòng tròn khép kín. Trong bối cảnh dịch bệnh trên người và vật nuôi diễn biến phức tạp, khó lường, chỉ có chăn nuôi sạch, khép kín theo quy trình hiện đại thì mới có lãi và an toàn.

Ngoài 2 mô hình kể trên, nhờ sự chủ động, mạnh dạn thay đổi, quyết tâm đầu tư tìm ra hướng đi mới hiệu quả trong nông nghiệp của người nông dân, đến nay, trên địa bàn tỉnh đã có nhiều nông dân chủ động thay đổi phương thức sản xuất rau quả, chăn nuôi an toàn theo hướng ứng dụng công nghệ cao, dần bắt nhịp với công cuộc chuyển đổi số. Hiệu quả thiết thực nhất đem lại cho họ khi thay đổi phương thức sản xuất này là nông dân không phải ghi chép nhật ký sản xuất thủ công như trước đây mà chỉ cần kiểm tra theo số liệu được cập nhật đầy đủ trên máy tính hoặc điện thoại thông minh để chờ ngày sản xuất và thu hoạch theo đúng quy trình. Không chỉ tự động hóa trong quy trình sản xuất, khâu marketing, tiêu thụ sản phẩm cũng dần được số hóa. Đến kỳ thu hoạch, thiết bị sẽ thông báo, hình ảnh sản phẩm được chuyển về đầu mối ký kết thu mua; doanh nghiệp thu mua cũng như người tiêu dùng chỉ cần đánh mã số trên tem truy xuất, mọi thông tin về sản phẩm từ giống, quy trình chăm sóc, chất lượng sản phẩm sẽ hiển thị đầy đủ. Nhờ ứng dụng công nghệ vào sản xuất, sản lượng rau, củ hay chất lượng các con vật nuôi tại nhiều nông trại, nhiều hợp tác xã trên địa bàn tỉnh được nâng lên, giá thành sản phẩm cũng được đẩy lên cao so với trước. Đến đầu năm 2022, toàn tỉnh có trên 240 cơ sở sản xuất nông nghiệp, thủy sản được cấp giấy chứng nhận VietGAP; hàng nghìn sản phẩm của nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã nông nghiệp đã được đưa lên sàn thương mại điện tử; một số sản phẩm nông sản đã xây dựng được thương hiệu, có thị trường tiêu thụ ổn định.

Tạo đà giúp nông dân đón vận hội mới

Xác định rõ vai trò của chuyển đổi số, thời gian qua, tỉnh Vĩnh Phúc đã chỉ đạo xây dựng kế hoạch dài hơi cho từng ngành, lĩnh vực và nông nghiệp chính là một trong những ngành được ưu tiên thực hiện chuyển đổi số. Theo đó, UBND tỉnh đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, nông dân làm nông nghiệp áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến, xây dựng thương hiệu, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, cấp chứng chỉ quản lý chất lượng và các công cụ cải tiến năng suất, chất lượng sản phẩm; hỗ trợ truy xuất nguồn gốc, xây dựng thương hiệu sản phẩm thông qua các chương trình, đề án hỗ trợ tái cơ cấu nông nghiệp, OCOP, phát triển thương mại điện tử… để đón vận hội mới từ chuyển đổi số.

Theo Quyết định 53 của UBND tỉnh Vĩnh Phúc, các cá nhân, đơn vị có sản phẩm được công nhận OCOP từ 3 sao trở lên sẽ được hỗ trợ một phần kinh phí đầu tư công nghệ mới phục vụ sản xuất

Hơn 2 năm qua, trong bối cảnh dịch COVID-19 bùng phát và diễn biến phức tạp, ảnh hưởng trực tiếp đến tiêu thụ sản phẩm, theo chỉ đạo của tỉnh, các ngành, địa phương đã chủ động quảng bá, xúc tiến thương mại thông qua các sàn giao dịch thương mại điện tử, giảm bớt gánh nặng cho nông dân. Đến hết năm 2021, tại tỉnh đã có khoảng 32.000 hộ nông dân được tạo tài khoản bán hàng, hơn 200 tài khoản thanh toán trực tuyến được tạo lập và trên 1.400 sản phẩm nông nghiệp được kết nối, quảng bá, giới thiệu, tiêu thụ trên sàn thương mại điện tử của Tổng Công ty Bưu Điện Việt Nam (postmart.vn) và sàn thương mại điện tử của Công ty Bưu chính Viettel (voso.vn). Không chỉ vậy, tham gia sàn thương mại điện tử, các hộ sản xuất nông nghiệp sẽ được hỗ trợ đăng ký, kết nối, quảng bá, giới thiệu sản phẩm, thêm các kênh phân phối mới, mở rộng thị trường trong nước và quốc tế. Đặc biệt, các sàn thương mại điện tử và nền tảng số cũng cung cấp các thông tin hữu ích như thông tin thị trường nông sản, dự báo nhu cầu và năng lực sản xuất nông sản, thông tin thời tiết, mùa vụ, giống, phân bón; thúc đẩy tiêu thụ nhanh, góp phần tránh ùn ứ nông sản khi cao điểm thu hoạch, giúp người nông dân giữ giá nông sản, tránh phụ thuộc vào thương lái, trung gian.

Hay trong chương trình OCOP, nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng các sản phẩm đặc trưng của Vĩnh Phúc, theo Quyết định số 53 về Quy định mức hỗ trợ triển khai thực hiện Chương trình mỗi xã một sản phẩm của UBND tỉnh, các cá nhân, đơn vị có sản phẩm được công nhận sản phẩm OCOP đạt chất lượng từ 3 sao trở lên sẽ được hỗ trợ một phần kinh phí đầu tư công nghệ mới phục vụ sản xuất; hỗ trợ quản lý nhãn hiệu sản phẩm OCOP, bao gồm cả chi phí đăng ký và thiết kế nhãn hiệu sản phẩm. Bên cạnh đó, các đơn vị, cá nhân tham gia chương trình OCOP cũng sẽ được hỗ trợ kinh phí trong quá trình tham gia gia xúc tiến thương mại tại các hội chợ; chi phí xây dựng website quảng bá giới thiệu và bán sản phẩm. Đến hết năm 2021, toàn tỉnh có hơn 60 sản phẩm được công nhận đạt chuẩn OCOP 3, 4 sao, tạo ra cơ hội để người nông dân thay đổi tư duy sản xuất và nâng cao vị thế cạnh tranh của các sản phẩm nông sản địa phương trên thị trường.

Tuy nhiên, trên thực tế, việc áp dụng chuyển đổi số trong lĩnh vực nông nghiệp còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc. Nguyên nhân chủ yếu là do nguồn lực đầu tư cho nghiên cứu và phát triển khoa học trong lĩnh vực này còn hạn chế; chất lượng nguồn nhân lực có chuyên môn cao về sản xuất, chế biến nông sản, sử dụng, vận hành thiết bị, nhất là thiết bị tự động, số hóa, thiết bị phân tích còn thiếu. Trong khi đó, nhiều người dân và cả doanh nghiệp đang thiếu vốn, thiếu thông tin để ứng dụng số hóa; cơ sở hạ tầng cho phát triển, ứng dụng các công nghệ mới chưa đồng bộ, kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn chưa đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa nông nghiệp; các công nghệ phụ trợ phục vụ phát triển nông nghiệp như: Cơ khí, chế biến sâu, dây chuyền kiểm nghiệm sản phẩm… vẫn chưa tương xứng với công nghệ số.

Đại diện Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khẳng định, đích hướng đến của chuyển đổi số trong nông nghiệp, nông thôn chính là người dân, người dân vừa là đối tượng thụ hưởng vừa là chủ thể thực hiện chuyển đổi số. Vì vậy, trên cơ sở Chương trình Chuyển đổi số Quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 của Chính phủ, tỉnh Vĩnh Phúc đã ban hành chính sách đặc thù khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 2020 – 2025 với những mục tiêu, nhiệm vụ phát triển nông nghiệp công nghệ cao theo hướng chú trọng nông nghiệp hiện đại, thông minh.

Đóng vai trò chủ đạo trong thực hiện ứng dụng số hóa cho lĩnh vực nông nghiệp, Sở sẽ tập trung tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, tạo điều kiện tốt nhất để nông dân bắt nhịp với chuyển đổi số. Trước mắt, là đẩy mạnh tuyên truyền, tập huấn, trang bị các kỹ năng cơ bản, năng lực thực hành giúp nông dân hiểu được vai trò và sẵn sàng thực hiện chuyển đổi số trong phát triển nông nghiệp, nông thôn; hỗ trợ, khuyến khích nông dân ứng dụng công nghệ cao, kết nối với doanh nghiệp có nền tảng chuyển đổi để lựa chọn những giải pháp, ứng dụng phù hợp trong trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, nhằm cải thiện, thay đổi phương thức sản xuất, đáp ứng yêu cầu tình hình mới. Sở cũng sẽ tập trung xây dựng cơ bản bản đồ số hóa cơ sở dữ liệu thông tin của ngành; trang bị phần mềm quảng bá sản phẩm nông nghiệp Vĩnh Phúc và các sản phẩm OCOP; xây dựng một số mô hình nông nghiệp thông minh nhằm khơi dậy tính chủ động của các thành phần tham gia sản xuất nông nghiệp theo hướng chuyển đổi số./.

Bích Phượng

Nguồn: www.vinhphuc.gov.vn

8 nhóm nhiệm vụ giải pháp trọng tâm để thúc đẩy phát triển KTTT, HTX trong thời gian tới

Để kinh tế tập thể (KTTT) phát triển năng động, hiệu quả, bền vững và thực sự là thành phần quan trọng trong nền kinh tế, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã yêu cầu tập trung triển khai 8 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trong Kết luận tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc tổng kết 20 năm thực hiện Nghị quyết 13-NQ/TW về kinh tế tập thể và tổng kết 10 năm thi hành Luật Hợp tác xã năm 2012.

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính phát biểu Kết luận tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc tổng kết 20 năm thực hiện Nghị quyết 13-NQ/TW về kinh tế tập thể và tổng kết 10 năm thi hành Luật Hợp tác xã năm 2012 diễn ra ngày 15/02 tại trụ sở Chính phủ

Kinh tế tập thể (KTTT) mà nòng cốt là hợp tác xã (HTX) là thành phần kinh tế quan trọng, luôn được Đảng, Nhà nước khuyến khích và phát triển. HTX ở nước ta được hình thành và phát triển qua các thời kỳ với những bước thăng trầm của lịch sử, các HTX đã vượt qua khó khăn, thử thách, có những đóng góp to lớn vào công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Sau 20 năm thực hiện Nghị quyết 13-NQ/TW, cùng với quá trình đổi mới kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế, khu vực kinh tế tập thể (KTTT) đã trải qua các giai đoạn phát triển khác nhau trong đó có những thuận lợi và khó khăn, thách thức nhất định. Khu vực KTTT với nhiều loại hình tổ chức kinh tế hợp tác đa dạng, trong đó nòng cốt là HTX là một trong những thành phần kinh tế quan trọng, đã khắc phục được một phần tình trạng yếu kém kéo dài, từng bước đổi mới gắn với cơ chế thị trường, bước đầu khẳng định là nhân tố quan trọng góp phần bảo đảm an sinh xã hội và sự phát triển kinh tế của đất nước.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, sau 20 năm triển khai, thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TW về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả KTTT, cùng với sự thay đổi nhanh chóng của nền kinh tế, khu vực KTTT của nước ta vẫn còn nhiều vấn đề tồn tại, chưa phát huy được tối đa tiềm năng của mình trong hỗ trợ phát triển kinh tế thành viên cũng như đóng góp vào phát triển kinh tế đất nước.

Để KTTT phát triển năng động, hiệu quả, bền vững và thực sự là thành phần quan trọng trong nền kinh tế, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã yêu cầu tập trung triển khai 8 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trong Kết luận tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc tổng kết 20 năm thực hiện Nghị quyết 13-NQ/TW về kinh tế tập thể và tổng kết 10 năm thi hành Luật Hợp tác xã năm 2012.

Cụ thể 8 nhóm nhiệm vụ, giải pháp được nêu trong Thông báo số 67/TB-VPCP như sau:

Một là: Nhận thức sâu sắc chủ trương, định hướng, vai trò, vị trí của KTTT là một thành phần kinh tế quan trọng, không thể thiếu trong nền kinh tế thị trường đa thành phần, đa sở hữu, định hướng xã hội chủ nghĩa theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII và các chủ trương, chính sách của Đảng về phát triển KTTT, HTX. Tiếp tục nghiên cứu, xây dựng cơ chế chính sách phù hợp với tình hình mới và thực tiễn Việt Nam.

Hai là: Tiếp tục hoàn thiện thể chế, tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, cơ chế, chính sách trên cơ sở tôn trọng các quy luật kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Xây dựng bộ máy quản lý nhà nước về KTTT, HTX tập trung, thống nhất, xuyên suốt trong chỉ đạo, điều hành từ trung ương đến địa phương.

Ba là: Nghiên cứu, hỗ trợ ứng dụng sáng tạo khoa học công nghệ, nhất là công nghệ cao, công nghệ số, phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế tri thức cho phát triển KTTT, HTX.

Bốn là: Huy động mọi nguồn lực cho phát triển KTTT, HTX, đẩy mạnh hợp tác công – tư.

Năm là: Xây dựng mô hình quản trị KTTT, HTX tiên tiến, kết hợp với mô hình truyền thống phù hợp với điều kiện, tình hình cụ thể của nước ta, có kế thừa, ổn định, đổi mới và phát triển.

Sáu là: Tạo cạnh tranh lành mạnh, gắn với mở rộng thị trường và phát triển thương hiệu, sản phẩm.

Bảy là: Tăng cường liên doanh, liên kết, xây dựng thương hiệu các sản phẩm theo chuỗi và theo thế mạnh của từng khu vực, vùng miền; quy hoạch vùng nguyên liệu hợp lý theo điều kiện từng địa phương, từng sản phẩm và quy mô, thị trường.

Tám là: Nâng cao trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ và các chủ thể tham gia KTTT, HTX, chuẩn hóa các chức danh quản lý trong HTX (giám đốc, kế toán, kiểm soát).

 Lê Huy

Nguồn: VCA